CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 4 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH 1. Khái niệm về năng lực và năng lực giải quyết vấn đề a) Năng lực Năng lực là thuật ngữ khá phổ biến hiện nay trong tất cả các lĩnh vực của đời sống. Khái niệm năng lực cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Roegiers [17]: "Năng lực là sự tích hợp các kỹ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong loại tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do tình huống đặt ra".
Phạm Minh Hạc cho rằng: "Năng lực là một tổ hợp đặc điểm tâm lý của một người, tổ hợp này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy".Rubinstein: “Năng lực là toàn bộ những thuộc tính tâm lí làm cho con người thích hợp với hoạt động có ích lợi cho xã hội nhất định” [17]. Năng lực thường được đánh giá dựa trên khả năng của một cá nhân hoặc một nhóm trong việc thực hiện một hoạt động, nhiệm vụ hay tác vụ nào đó. Theo Đặng Thành Hưng cấu trúc của năng lực gồm ba bộ phận cơ bản: Kiến thức bao gồm kiến thức chuyên môn, kiến thức văn hóa, kiến thức kỹ năng và kinh nghiệm thực tiễn; Tư duy là khả năng phân tích, suy luận, tư duy logic, tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề; Tình cảm: Bao gồm một số yếu tố như sự đam mê, lòng trung thành, trách nhiệm, sự tự tin và lòng nhân ái. Theo Từ điển Tiếng Việt [17], năng lực là “khả năng, tài năng của một người trong một lĩnh vực nào đó, hoặc có thể chỉ đến khả năng hoặc đức tính để làm việc, giải quyết vấn đề một cách hiệu quả".
15 Theo Từ điển Triết học [23], thì “Năng lực được hiểu theo nghĩa rộng là những đặc tính tâm lý của cá thể điều tiết hành vi của cá thể và là điều kiện cho hoạt động sống của cá thể”. Năng lực chung nhất của cá thể là tính nhạy cảm, được hoàn thiện trong quá trình phát triển cá nhân và xã hội. Tổ chức lao động cung cấp cho con người các hình thức hoạt động nghề nghiệp, kỹ năng và kiến thức cần thiết để thực hiện công việc đó, trong khi đó hệ thống giáo dục giúp con người phát triển các kỹ năng tư duy, khả năng giải quyết vấn đề và phát triển trí tuệ. Điều quyết định năng lực của con người không chỉ là hoạt động của bộ não mà còn phụ thuộc vào sự phát triển của loài người đạt được.
Cả hai hệ thống này đều đóng vai trò quan trọng trong việc giúp con người phát triển năng lực của mình để có thể đóng góp vào xã hội và đạt được thành công trong cuộc sống. Các tác giả trong các giáo trình tâm lý học đã đưa ra nhiều quan niệm về năng lực. Theo đó, năng lực là sự tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân thích hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, giúp hoạt động đạt được kết quả tốt. Năng lực không chỉ là tiền đề mà còn là kết quả của hoạt động, đồng thời nó cũng phát triển trong quá trình hoạt động.
Ngoài ra, theo quan điểm của Tâm lý học Mác xít: “Năng lực không phải là một đặc trưng bẩm sinh hay được truyền từ cha mẹ, mà nó được hình thành và phát triển thông qua quá trình hoạt động và tương tác xã hội. Các yếu tố như điều kiện sống, giáo dục, đào tạo, kinh nghiệm và tương tác xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển năng lực của con người. Trong quá trình hoạt động, con người sẽ tiếp thu thêm kinh nghiệm và kiến thức, từ đó nâng cao năng lực và đạt được những kết quả tốt hơn trong hoạt động tiếp theo” [19]. Năng lực là một khái niệm vô cùng phức tạp và yêu cầu sự kết hợp của nhiều yếu tố tâm lý khác nhau.
Không thể giải thích năng lực chỉ bằng một thuộc tính duy nhất, mà thực tế là sự kết hợp của nhiều thuộc tính khác nhau. Các thuộc tính này bao gồm khả năng tư duy logic, sáng tạo, 16 giải quyết vấn đề, thích ứng, làm việc nhóm, giao tiếp, quản lý thời gian và tập trung. Tuy nhiên, sự kết hợp này không phải là kết quả của việc cộng lại các thuộc tính, mà thực tế là một tổng hợp hữu cơ, trong đó các thuộc tính tâm lý tương tác với nhau theo một hệ thống nhất định và một thuộc tính nổi bật hơn các thuộc tính khác và các thuộc tính khác phụ thuộc vào thuộc tính chủ đạo đó. Mỗi người có mức độ phát triển khác nhau ở các yếu tố này và cần phải được đào tạo để nâng cao năng lực của mình.
Việc đào tạo này có thể bao gồm học tập, trải nghiệm và rèn luyện những kỹ năng cần thiết để phát triển các thuộc tính tâm lý. Những kỹ năng đó có thể là khả năng tư duy, khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp, khả năng quản lý thời gian và tập trung, và nhiều yếu tố khác nữa. Theo Bernd Meier, “Năng lực là khả năng thực hiện thành công và có trách nhiệm các nhiệm vụ, giải quyết vấn đề trong các tình huống xác định cũng như các tình huống thay đổi trên cơ sở huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí khác như động cơ, ý chí, quan niệm, giá trị., suy nghĩ thấu đáo và sự sẵn sàng hành động”. Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể (2018) đã nêu rõ: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những kiện cụ thể.
Trong đó, năng lực cốt lõi là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả”. [19] Mặc dù có nhiều cách để giải thích và bày tỏ, nhưng các nhà khoa học đồng ý rằng năng lực được tạo thành từ sự kết hợp của nhiều kỹ năng khác nhau để thực hiện các hoạt động thành phần có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Năng lực có thể được phát triển thông qua học tập, trải nghiệm và thực hành. Năng lực là khả năng hoặc kỹ năng cần thiết để thực hiện một công việc hoặc 17 nhiệm vụ nào đó của một cá nhân.
Để thúc đẩy sự phát triển cá nhân và chuyên môn, năng lực có thể được đo lường và đánh giá. Năng lực được định nghĩa là khả năng giải quyết các nhiệm vụ mới và được phát triển thông qua tính sáng tạo và khả năng tư duy. Năng lực có thể được xếp loại theo nhiều lĩnh vực và có thể được nâng cao bằng cách luyện tập. Năng lực được chia thành hai trình độ chính là tái tạo và sáng tạo.
Tại trình độ tái tạo, người thực hiện chỉ thực hiện các nhiệm vụ đã được chuẩn bị sẵn có và không cần phải tư duy hay sáng tạo để hoàn thành nhiệm vụ. Năng lực sáng tạo là một trong những yếu tố quan trọng giúp chủ thể thực hiện hoạt động theo cách thức mới và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, trong quá trình tái tạo, việc sáng tạo không phải là không có những yếu tố tái tạo. Ngoài ra, năng lực không phải là yếu tố duy nhất quyết định thành công trong công việc và cuộc sống, nhưng nó vẫn đóng một vai trò quan trọng.
Theo quan niệm của nhiều tác giả, năng lực là sự kết hợp của nhiều thuộc tính cá nhân được bộc lộ qua hành động khi thực hiện các hoạt động trong thực tiễn để đạt được hiệu quả nhất định. Để phát triển năng lực, chúng ta có thể học tập, trải nghiệm và thực hành. Tuy nhiên, một số năng lực cũng có thể được kế thừa hoặc có sẵn từ bản chất của mỗi cá nhân. b) Năng lực giải quyết vấn đề Theo định nghĩa trong đánh giá PISA (2012): “Năng lực giải quyết vấn đề là khả năng của một cá nhân hiểu và giải quyết tình huống vấn đề khi mà giải pháp giải quyết chưa rõ ràng.
Nó bao gồm sự sẵn sàng tham gia vào giải quyết tình huống vấn đề đó – thể hiện tiềm năng là công dân tích cực và xây dựng” Theo Nguyễn Cảnh Toàn: “Giải quyết vấn đề là hoạt động trí tuệ được coi là trình độ phức tạp và cao nhất về nhận thức của con người, vì cần huy động tất cả các năng lực trí tuệ của cá nhân. Để giải quyết vấn đề, chủ thể phải huy động trí nhớ, tri giác, lý luận, khái niệm hóa, ngôn ngữ, đồng thời sử dụng cả cảm xúc, động cơ, niềm tin ở năng lực bản thân và khả năng kiểm soát được tình thế” [21] 18 Theo Nguyễn Thị Lan Phương, có thể đề xuất định nghĩa như sau: “Năng lực giải quyết vấn đề là khả năng của một cá nhân “huy động”, kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… để hiểu và giải quyết vấn đề trong tình huống nhất định một cách hiệu quả và với tinh thần tích cực”. [16] Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu năng lực năng lực giải quyết vấn đề của học sinh là: là khả năng tìm ra giải pháp hiệu quả cho các vấn đề phức tạp hoặc khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống. Nó bao gồm khả năng phân tích, đánh giá và đưa ra quyết định thông minh dựa trên các thông tin và tài nguyên có sẵn.
Năng lực giải quyết vấn đề cũng bao gồm khả năng tìm kiếm và sử dụng các công cụ và kỹ năng để giải quyết các vấn đề một cách hiệu quả và nhanh chóng với thái độ tích cực. Biểu hiện năng lực giải quyết vấn đề của học sinh lớp 4 Đánh giá năng lực của học sinh là một bước phát triển cao hơn so với đánh giá kiến thức và kỹ năng. Để đánh giá được năng lực của học sinh, chúng ta cần tạo cơ hội cho học sinh được giải quyết các tình huống thực tế, có tính thực tiễn. Khi đó, học sinh sẽ phải thể hiện được những kiến thức và kỹ năng đã học được ở trường, đồng thời sử dụng những kinh nghiệm cá nhân để giải quyết vấn đề.