đặt vấn đề để tìm và giải quyết mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển trong tự nhiên, xã hội và trong tư duy. Đến thời kì Phục hưng, một số trí thức ở châu Âu như Colette, Eramus đã bắt đầu đưa ra sự cần thiết về một cách có phê phán đối với các lĩnh vực trong đời sống xã hội như: Nghệ thuật, xã hội, tôn giáo… Thế kỉ XVII, Thomas Hobbes chấp nhận quan điểm về thế giới tự nhiên mà trong đó mọi thứ đều được giải thích bằng chứng cứ và lập luận. John Locke lại ủng hộ sự phân tích, phán đoán trong cuộc sống và suy nghĩ hàng ngày. Vào thế kỉ XVIII, các tư tưởng khai sáng như Montesquier, Voltaire… đua ra giả thuyết trí tuệ loài người được rèn luyện bởi lập luận đi tìm các bằng chứng và lí do tốt hơn cho xã hội và chính trị.
Đây là đóng gớp quan trọng cho KNPB. Thế kỉ XIX, TDPB được mở rộng hơn trong cuộc sống loài người bởi August Comte và Herbert Spencer. Vào thế kỉ XX, các kiến giải về năng lực và bản chất của TDPB được trình bày một cách hết sức tường minh. Cụ thể, năm 1906 – William Graham Sumner đã công bố công trình nghiên cứu cơ sở về xã hội học và nhân loại học.
Ông cũng nhận thấy sự cần thiết của TDPB tronng giáo dục. Chính nó là sự đảm bảo cho chúng ta chống lại các ảo tưởng, sự hiểu sai về bản thân của chúng ta và những sự kiện của thế giới tự nhiên. Năm 1933, nhà giáo dục học người Mỹ John Dewey đã cho ra đời tác phẩm “How we think” – Cách chúng ta nghĩ. Ông đã nhắc đến KNPB như là một mục đích của giáo dục.
Khi đó, ông đã dùng thuật ngữ “Reflective thinking – Suy nghĩ sâu sắc” [9]. Còn nhà triết học người Anh – Russell, ông cho rằng KNPB bao hàm sự quy chiếu đến hàng loạt các kỹ năng, các tâm thế và thái độ. Ông cũng khẳng định rằng giáo dục cần đề xuất “việc đào tạo các thói quen suy nghĩ của tư tưởng”. Những kĩ năng phê phán có cơ sở khoa học được ông đề cập bao gồm: 8 (1) Năng lực hình thành ý kiến riêng.
(2) Năng lực tìm kiếm một gải pháp không thiên vị. (3) Năng lực nhận ra và tra vấn các giả định. (4) Ông đặc biệt nhấn mạnh và chỉ ra cách hiểu sai về KNPB rằng đây không phải là công việc mang tính hủy diệt mà là một công việc mang tính xây dựng. Tư duy phản biện có nguồn gốc có nguồn gốc từ triết lý phân tích và chủ nghĩa kiến tạo thực dụng từ 2500 năm trước như trong kinh Phật, cũng như trong truyền thống Socrat của Hy Lạp, là những chất vấn nhằm tìm kiếm sự thật, được dùng để xác định xem những kiến thức dựa trên thẩm quyền liệu có thể được đánh giá lại một cách có lý lẽ với sự rõ ràng và nhất quán về lô gic hay không? Tác giả Fisher, trong cuốn “Dạy trẻ em tư duy”, có đề cập các kĩ năng tư duy phê phán: Đặt câu hỏi đúng; Gợi ý cho trẻ lập luận logic; Hình thành kinh nghiệm: sắp xếp lập luận theo trật tự, phân loại các sự vật, đánh giá sự vật trên cơ sở các phạm trù Đúng/Sai/Chưa [42].
Hay Facione (1990, 2011), khi bàn về tư duy phê phán có đưa ra các thao tác chủ yếu của tư duy phê phán gồm: cắt nghĩa, phân tích, đánh giá suy luận, lí giải, tự hiệu chỉnh. Quá trình tư duy phê phán phải trải qua 5 bước: 1) Xác định được vấn đề và các ưu tiên; 2) Đào sâu sự hiểu biết và thu thập các thông tin phù hợp; 3) Liệt kê các lựa chọn và các hệ quả tương ứng; 4) Đánh giá tình huống và đưa ra quyết định ban đầu; 5) Xem xét kĩ lưỡng cả quá trình và tự hiệu chỉnh khi cần thiết [55]. Có thể nói, Facione đã gợi mở phương pháp rèn luyện tư duy phê phán. Điểm qua một cách sơ lược ở phương Tây, còn ở phương Đông thì chúng ta lại thấy sắc thái trái ngược hoàn toàn.
Nếu như các nhà triết học Phương Tây thế hệ sau có thể “đạp đổ” lâu đài tư tưởng của các nhà triết học đi trước để kiến thiết hệ thống triết học riêng của mình. Còn ở phương Đông thì “thầy và lời dạy của thầy là chân lý”, với quan niệm như vậy cho nên hình thành nên quan điểm những hàng đệ tử về sau chỉ cần làm đúng như lời dạy của các thế hệ đi trước là tròn vai lắm rồi! Do 9 thế ngục tù tư tưởng đã và đang giam hãm chúng ta. Thế thì trong Phật giáo thì sao? Ở phương Đông, tư duy phản biện được tìm thấy trong kinh Phật, chủ yếu ở kinh Vệ đà và kinh A – tì – đạt – ma. Có thể nói triết học Phật giáo là nền triết học gần như là duy nhất ở Đông phương khuyến khích tinh thần phản biện, tìm hiểu căn nguyên của tất cả vấn đề.
Như vậy, các nghiên cứu trên thế giới cho rằng kỹ năng phản biện là khả năng vận dụng tri thức để xác định, phân tích và đánh giá một vấn đề dựa trên những phán đoán có cơ sở trước khi đưa ra kết luận hay quyết định nào đó. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu tổng quan những cuốn sách về kỹ năng tư duy phản biện sẽ là cơ sở lí luận để người nghiên cứu thấy rằng việc phát triển kỹ năng phản biện cho SV là điều hết sức cần thiết và đáp ứng nhu cầu của thực tiễn học tập cũng như công việc. Một số nghiên cứu tại Việt Nam Ở Việt Nam, TDPB chủ yếu phát triển vào thế kỉ XXI. Trong cuốn “Khơi dậy tiềm năng sáng tạo”, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Văn Lê đã nói: “Người có tư duy độc lập trước một sự việc, quan sát, phân tích, tổng hợp để có phán xét đúng về sự việc đó tốt hay xấu, tốt xấu chỗ nào, người như vậy là người có tư duy phê phán [20, tr.
Theo các nghiên cứu, con người có nhiều chỉ số, như: Chỉ số thông minh (IQ), chỉ số cảm xúc (EQ), chỉ số vượt khó (AQ), chỉ số đam mê (PQ), chỉ số đạo đức (MQ), trí thông minh sáng tạo (CQ)… Mỗi chỉ số đều có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần bảo đảm cho sự thành công của con người. Trong đó trí thông minh sáng tạo là một giá trị cốt lõi để phân biệt năng lực trí tuệ giữa người này với người khác. Trong bài viết “Một số vấn đề về phát triển năng lực tư duy phản biện của sinh viên Đại học hiện nay” của tác giả Bùi Ngọc Quân cho rằng đây là quá trình hình thành và phát triển những kĩ năng tư duy để giúp SV có khả năng tư duy tích cực, tự đặt vấn đề, đánh giá, nghiên cứu và giải quyết vấn đề theo hướng phản biện một cách có hệ thống, lô gic, khách quan và sáng tạo. Điều đó có vai trò to lớn đối vớ sự phát triển trí tuệ của sinh viên, giúp họ tiếp thu, tích lũy tri thức và nâng cao năng lực phân tích, giải quyết hiệu quả các vấn đề lí luận và thực tiễn trong học tập.
SV Đại học là 10 nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước, nên càng cần có năng lực phản biện. Nó được hình thành trong quá trình học tập đại học, là cơ sở quan trọng nâng tầm tư duy của đội ngũ nghiên cứu các nhà nghiên cứu khoa học trong tương lai [56] Tác giả Bùi Loan Thùy “Dạy và rèn kỹ năng tư duy phản biện cho sinh viên” lại cho rằng việc dạy và tăng cường rèn luyện KNPB cho SV là điều hết sức cần thiết. Môn học sẽ giúp SV trưởng thành nhanh về mặt nhận thức, cởi mở hơn với các quan điểm khác nhau, tự khắc phục được sự thiên vị và các khuynh hướng thiên lệch trong tư duy của bản thân, có khả năng giám sát các cảm giác và cảm xúc của bản thân và hiểu cảm xúc của người khác, có khả năng sử dụng các thông tin nhằm định hướng suy nghĩ và hành động của mình. Còn tác giả Trịnh Chí Thâm, với bài viết “Một số chiến lược nhằm phát triển tư duy phản biện cho sinh viên đại học” lại cho rằng TDPB là loại tư duy bậc cao, có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động dạy và học.
Với đặc thù của giáo dục đại học là đào tạo và chuẩn bị cho người học bước vào thế giới nghề nghiệp mà họ lựa chọn, việc phát triển TDPB càng trở nên cần thiết và tất yếu nhằm hoàn thiện hơn năng lực học tập và làm việc suốt đời cho SV. Thời gian qua, người ta hay nói nhiều đến nhân tài. Nhân tài thực chất là những người có trí thông minh sáng tạo nổi trội so với những người bình thường. Trí sáng tạo của con người vừa là động lực, vừa là bệ đỡ cho những phát kiến, phát minh, sáng kiến ra đời, góp phần làm thay đổi, hơn thế là tạo ra những bước đột phá phát triển cho mỗi lĩnh vực, ngành nghề nói riêng và tạo ra những bước ngoặt phát triển cho lịch sử xã hội loài người nói chung.
Trong thời gian gần đây, vấn đề đổi mới tư duy dạy học tích hợp các nội dung dạy học đã bắt kịp với những yêu cầu của thực tiễn cuộc sống mà các môn học ở trường Đại học cũng có một diện mạo mới. Qua các nghiên cứu trên cho thấy hầu hết các tác giả đều khẳng định việc rèn luyện và phát triển TDPB cho SV là điều cần thiết. Các tác giả đã đưa ra những biện pháp để rèn luyện và phát triển TDPB, nhưng chưa đề cập nhiều đến làm thế nào để phát triển kỹ năng phản biện của SV. 11 Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước phần lớn tập trung vào việc phát triển tư duy phản biện nói chung.
Đề tài này, người nghiên cứu muốn cụ thể hóa kỹ năng phản biện vào hoạt động dạy học để phát triển kỹ năng phản biện cho sinh viên Trường Đại học Công nghệ TP. Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu Trong các hoạt động dạy học thì tư duy phản biện sẽ hình thành cho người học khả năng hiểu các vấn đề một cách sâu sắc với những câu hỏi: Tại sao? Như thế nào? Làm cách nào? Bên cạnh đó, phản biện cũng giúp quá trình dạy học dân chủ có không khí sôi nổi hơn.