CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG XÃ HỘI CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON THỰC HÀNH – AN MỸ - TAM KỲ - QUẢNG NAM. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Thiết kế hoạt động giáo dục * Thiết kế - Thiết kế theo từ điển tiếng Việt có 2 nghĩa: Nghĩa thứ nhất: Thiết kế (động từ) là làm đồ án xây dựng một bản vẽ với tất cả những tính toán cần thiết để theo đó mà xây dựng chương trình sản xuất sản phẩm. Nghĩa thứ hai: Thiết kế (danh từ) là tập tài liệu kỹ thuật toàn bộ, gồm có bản tính toán, bản vẽ để có thể theo đó mà xây dựng chương trình, sản xuất thiết bị.
[20] * Hoạt động Có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động tùy theo góc độ xem xét. Dưới góc độ triết học, hoạt động là quan hệ biện chứng của chủ thể và khách thể. Trong quan hệ đó, chủ thể là con người, khách thể là hiện thực khách quan. Ở góc độ này, hoạt động được xem là quá trình mà trong đó có sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai cực “chủ thể - khách thể”.
Dưới góc độ sinh học, hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và bắp thịt của con người khi tác động vào hiện tượng khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần và vật chất của con người. Dưới góc độ tâm lý học, xuất phát từ quan điểm cho rằng cuộc sống của con người là chuỗi những hoạt động, giao tiếp kế tiếp nhau, đan xen vào nhau, hoạt động được hiểu là phương thức tồn tại của con người trong thế giới. Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người (chủ thể) và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và về phía con người. Trong mối quan hệ có hai quá trình diễn ra đồng thời, bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau.
+ Quá trình thứ nhất là quá trình đối tượng hóa (còn gọi là “xuất tâm”), trong đó chủ thể chuyển năng lượng của mình thành sản phẩm hoạt động. Đây là quá trình mà tâm lý con người (của chủ thể) được bộc lộ, được khách quan hóa trong quá trình làm 11 ra sản phẩm. Như vậy, chúng ta mới có thể tìm hiểu được tâm lý con người thông qua hoạt động của họ. + Quá trình thứ hai là quá trình chủ thể hóa (còn gọi là “nhập tâm”), trong đó con người chuyển nội dung khách thể (những quy luật, bản chất, đặc điểm,.
của khách thể) vào bản thân mình, tạo nên tâm lý, ý thức, nhân cách của bản thân. Đây chính là quá trình chiếm lĩnh (lĩnh hội) thế giới, là quá trình nhập tâm. Vì thế, người ta có thể nói tâm lý là sự phản ánh thế giới khách quan, nội dung tâm lý do thế giới khách quan quy định. Như vậy, trong hoạt động, con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lý, ý thức của mình, hay nói khác đi, tâm lý, ý thức, nhân cách được bộc lộ, hình thành và phát triển trong hoạt động.
Hoạt động của con người bao gồm các quá trình con người tác động vào vật thể vật chất gọi chung là quá trình bên ngoài và quá trình tinh thần, trí tuệ - quá trình bên trong. Nghĩa là trong hoạt động bao gồm cả hành vi lẫn tâm lý, cả công việc chân tay lẫn công việc trí óc. * Giáo dục Giáo dục là một cách tiếp thu về kiến thức, các thói quen, phong tục và những kỹ năng của con người đã được lưu truyền thông qua các thế hệ bởi hình thức giảng dạy, nghiên cứu hoặc đào tạo. Giáo dục có thể do mỗi người tự tìm hiểu và học hỏi cũng có thể do người khác hướng dẫn.
Điều này đồng nghĩa với việc những trải nghiệm mà cá nhân con người có được cùng các suy nghĩ, hành động và sự cảm nhận sẽ được coi là giáo dục. Đối với mỗi người, giáo dục sẽ được hình thành thông qua nhiều giai đoạn khác nhau: từ giáo dục cấp mầm non, giáo dục tiểu học cho tới giáo dục trung học và đại học. Trong từ điển giáo dục được hiểu theo nhiều cách với nội dung tương tự nhau [23]: - Giáo dục là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội. - Giáo dục là hệ thống có mục đích xác định được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống) của các cơ quan giáo dục chuyên biệt (nhà trường) nhằm phát triển toàn diện nhân cách.
12 - Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới quan hệ của những tác động sư phạm của nhà trường, chỉ liên quan đến các mặt giáo dục như: trí học, đức học, mĩ dục, thể dục, giáo dục lao động. *Hoạt động giáo dục Sự hình thành và phát triển nhân cách của con người chịu sự tác động của nhiều yếu tố: di truyền, môi trường, giáo dục và quan trọng nhất là hoạt động của cá nhân, nó quyết định trực tiếp sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân. Hoạt động là hình thức biểu hiện quan trọng nhất các mối quan hệ tích cực, chủ động của con người với thực tiễn xung quanh. Hoạt động là phương thức tồn tại của con người, đồng thời là hoạt động điều kiện, là phương tiện, là con đường hình thành và phát triển nhân cách, trong hoạt động giáo dục giữ vai trò chủ đạo.
Hoạt động giáo dục có thể hiểu theo hai nghĩa khác nhau : - Theo nghĩa rộng: Hoạt động giáo dục là hoạt động có chủ đích, có kế hoạch, do nhà trường giáo dục định hướng, thiết kế, tổ chức, thông qua những cách thức phù hợp, nhằm thực hiện mục đích giáo dục. - Theo nghĩa hẹp: Hoạt động giáo dục bao gồm những hoạt động giáo dục được tổ chức ngoài giờ các môn học bắt buộc như: văn nghệ, thể dục, thể thao, tham quan du lich, giao lưu văn hóa, hoạt động câu lạc bộ, hoạt động bảo vệ môi trường, lao động công ích và các hoạt động xã hội khác. Như vậy, thiết kế hoạt động giáo dục có thể hiểu là quá trình tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực, nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội ngày nay. Là các hoạt động truyền tải thông tin và dữ liệu từ người này sang người khác.
Kỹ năng xã hội * Kỹ năng Trong các từ điển kỹ năng được hiểu như sau : - Kỹ năng là cách thức thực hiện hành động đã được chủ thể tiếp thu, được đảm bảo bằng các hoạt động tri thức và kỹ xảo đã được lĩnh hội. 13 - Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức, hiểu biết của con người để thực hiện một việc gì đó, có thể là việc nghề nghiệp mang tính kỹ thuật, chuyên môn hoặc việc liên quan cảm xúc, sinh tồn, giao tiếp,… - Kỹ năng là cách thức cơ bản để chủ thể thực hiện hành động, thể hiện bởi tập hợp những kiến thức đã thu lượm và những thói quen, kinh nghiệm đã có. Người có kỹ năng về một hành động nào đó thì trước tiên nắm rõ tri thức về hành động đó và thực hiện đạt kết quả trong mọi điều kiện khác nhau.Golubex kỹ năng là năng lực của người thực hiện công việc có kết quả và chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và những khoảng thời gian tương ứng. Bất kỳ một kỹ năng nào cũng bao hàm trong đó cả biểu tượng, khái niệm, vốn trí thức, sự tự kiểm tra, điều chỉnh quá trình hoạt động.
Như vậy, kỹ năng có thể hiểu là năng lực của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức và kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi. [27] *Kỹ năng xã hội Trên thế giới cũng như ở Việt Nam có rất nhiều quan điểm về kỹ năng xã hội khác nhau: Theo UNESCO, kỹ năng xã hội là những kỹ năng cần thiết để chung sống với người khác, gồm có các kỹ năng như: kỹ năng giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định mình, kỹ năng hợp tác, kỹ năng làm việc nhóm,. Theo WHO, kỹ năng xã hội gồm những kỹ năng giao tiếp ứng xử, tạo thiện cảm, làm việc nhóm,. Theo quan điểm của tác giả Lê Bích Ngọc [4] thì kỹ năng xã hội gồm có: kỹ năng hợp tác, kỹ năng nhận và hoàn thành nhiệm vụ, kỹ năng thực hiện các quy tắc xã hội, kỹ năng giữ gìn đồ dùng đồ chơi, kỹ năng quý trọng đồng tiền.
Trong tài liệu bồi dưỡng thường xuyên các cấp học của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo năm 2013, tác giả Nguyễn Thị Thu Hà cho rằng: “Kỹ năng xã hội là những cách thức giải quyết các vấn đề trong cuộc sống xã hội nhằm giúp con người thích nghi và phát triển tốt hơn”. [12] Từ các khái niệm kỹ năng, kỹ năng xã hội của các tác giả trên, ở đề tài này chúng tôi cho rằng: 14 Kỹ năng xã hội của trẻ là khả năng mà trẻ có thể vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để giải quyết có hiệu quả các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày theo chuẩn mực của xã hội. Giáo dục phát triển kỹ năng xã hội + Là một trong những nhiệm vụ quan trọng để đạt được những mục tiêu phát triển toàn diện cho trẻ. Kỹ năng xã hội bao gồm những kỹ năng giúp đỡ trẻ nhận thức, ứng xử, giao tiếp và thích ứng thành công trong xã hội đặc biệt đối với trẻ mầm non 5-6 tuổi chuẩn bị bước vào bậc tiểu học.
Kỹ năng xã hội cần được tích hợp thông qua trải nghiệm của trẻ. Trải nghiệm là con đường tốt nhất giúp trẻ hoạt động trực tiếp để giải quyết trong nhận thức và cuộc sống. + Là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, là một hoạt động cụ thể nhằm giúp cho người học có nhận thức về xã hội, có khả năng giao tiếp, biết thiết lập các mối quan hệ với người khác, biết lắng nghe, chia sẻ, quan tâm tới người khác, quan tâm, yêu thương mọi người và sự vật gần gũi,. nhằm mục đích phát triển nhân cách con người một cách toàn diện.