CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan các nghiên cứu về dạy học khám phá 1. Một số quan điểm khám phá có hướng dẫn trong dạy học của các nhà khoa học 1. Dạy học khám phá trong các công trình của Jerome Bruner J.S Bruner được xem là người đầu tiên đưa ra khái niệm “ dạy học khám phá” trong công trình “ The Process of Education” vào năm 1960 Bruner cho rằng việc học tập phả là một quá trình tích cực trong đó học sinh kiến tạo ý tưởng mới hay khái niệm mới trên cơ sở vốn kiến thức của họ.
Ông đề nghị rằng việc dạy học phải làm sao khuyến hích người học khám ra các dữ kiện và các mối liên hệ cho chính họ Học bằng khám phá là một kiểu học tích cực xuất phát từ hoạt động tự điều chỉnh mà mọi người phải giải quyết vấn đề, trong đó người đó xây dựng kiến thức của riêng mình. Người học không được cung cấp tài liệu học tập cuối cùng, nhưng phải tự khám phá nó. Khám phá này đề cập đến việc sửa đổi kinh nghiệm hoặc sự kiện được trình bày cho chúng tôi để vượt ra ngoài thông tin đã cho, tạo ra ý tưởng mới và giải quyết vấn đề hoặc xung đột cho chính mình. Bruner cho rằng “Học là một quá trình mang tính chủ quan.
Qua quá trình đó, người học hình thành lên các ý tưởng hoặc khái niệm mới dựa trên vốn kiến thức sẵn có của mình. Người học lựa chọn và chuyển hóa thông tin, hình thành các giả thuyết và đưa ra các quyết định dựa vào cơ sở cấu trúc của quá trình nhận thức. Ông khẳng định rằng bắt đầu ngay từ khi mới đến trường, người học đã cần phải biết cấu trúc cơ bản của kiến thức hơn là các số liệu, dữ kiện về các thông tin bình thường tẻ nhạt, những cái đòi hỏi phải ghi nhớ quá nhiều, HS cần được khuyến khích dạy cách tự do khám phá thông tin.” [1] Theo Bruner “Việc học tập khám phá xảy ra khi các cá nhân phải sử dụng quá trình tư duy để phát hiện ra ý nghĩa của điều gì đó cho bản thân họ. Để có được điều này, người học phải kết hợp quan sát và rút ra kết luận, thực hiện so sánh, làm rõ ý nghĩa số liệu để tạo ra một sự hiểu biết mới mà họ chưa từng biết trước đó.
GV cần 5 cố gắng và khuyến khích HS tự khám phá ra các nguyên lý, cả GV và HS cần phải thực sự hòa nhập trong quá trình dạy học. Bruner đã chỉ ra 4 lý do cho việc sử dụng phương pháp này như sau: + Thúc đẩy tư duy + Phát triển động lực bên trong hơn là tác động bên ngoài + Học cách khám phá + Phát triển trí nhớ Đối với lý do thứ nhất: về nghĩa của sự thúc đẩy tư duy, Bruner cho rằng: một cá nhân chỉ có thể học và phát triển trí óc của mình bằng việc dùng nó. Đối với lý do thứ hai: ông tin rằng khi đã thành công với phương pháp khám phá, người học cảm thấy thỏa mãn với những gì mà mình đã làm. HS nhận được sự kích thích trí tuệ thỏa đáng, phần thưởng bên trong, đó chính là động lực bên trong.
Thường thì GV tác động bên ngoài thông qua những lời khen, phần thưởng bên ngoài. Nhưng nếu như họ muốn người học tìm được động lực hoặc hứng thú thực sự trong việc học, họ phải xây dựng những phương pháp hoặc các hệ thống nhằm mang lại cho người học những sự thỏa mãn của bản thân chứ không phải là động cơ bên ngoài. Nội lực có vai trò quyết định sự thành bại trong việc học tập của cá nhân. Đối với lý do thứ ba: ông nhấn mạnh rằng cách duy nhất mà người học, học được các kỹ thuật khám phá đó là họ phải có cơ hội để khám phá.
Thông qua khám phá, người học dần dần sẽ học được cách tổ chức và thực hiện các nghiên cứu của mình. Đối với lý do thứ tư: ông cho rằng một trong nhưng kết quả tốt nhất của phương pháp khám phá đó là: “nó hỗ trợ tốt hơn trí nhớ của người học, người học duy trì trí nhớ bền lâu. Chúng ta hãy suy nghĩ về một điều gì mà chúng ta đã nghĩ và so sánh những thông tin đã được cung cấp thì những gì mà bạn đã tư duy và đi đến kết luận vẫn rõ ràng trong đầu của bạn cho dù bạn đã học cách đây nhiều năm, trong khi đó những khái niệm mà bạn được người ta cung cấp đã mất đi. Tư liệu sử dụng để phân tích và dẫn đến kết quả thường vẫn còn “tươi rói” trong óc, hơn nữa sẽ gợi lại những quan niệm mà bạn đã lãng quên”.
Dạy học khám phá trong các công trình của Geofrey Petty Theo Geoffrey Petty, có hai cách tiếp cận trong dạy học đó là: “dạy học bằng cách giải thích và dạy học bằng cách đặt câu hỏi. 6 Trong dạy học bằng cách giải thích, học sinh được giáo viên giảng kiến thức mới, học sinh phải sử dụng và ghi nhớ kiến thức này. Còn với dạy học bằng cách đặt câu hỏi, giáo viên đặt câu hỏi hoặc ra bài tập yêu cầu học sinh phải tự tìm ra kiến thức mới mặc dù vậy vẫn có sự hướng dẫn hoặc chuẩn bị đặc biệt. Kiến thức mới này được giáo viên chỉnh sửa và khẳng định lại.
Khám phá có hướng dẫn là một ví dụ của cách tiếp cận này. Dạy học khám phá chỉ có thể được sử dụng nếu người học có khả năng rút ra được bài học mới từ kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của mình.” [12] Geoffrey Petty cũng đã đề cập đến những thế mạnh của phương pháp khám phá nếu áp dụng đúng là: + Tích cực, khuyến khích được học sinh tham gia, có tính động viên cao và mang lại niềm vui cho người học. Phần đặt câu hởi làm tăng tính ham hiểu biết và hứng thú của học sinh đối với môn học. + Học sinh phải tự tìm hiểu, tức là phải nắm vững vấn đề đang học.
Kết quả là các em sẽ hiểu vấn đề, mối liên quan của nó tới bài học trước và các em nhớ bài lâu hơn. + Phương pháp này khiến học sinh phải tư duy tốt: đánh giá, tư duy có suy xét, giải quyết vấn đề, phân tích, tổng hợp,…. Ngược lại, những phương pháp lấy giáo viên làm trung tâm thường hướng học sinh tới những kĩ năng ít phải tư duy như ngồi nghe giẳng và cố hiểu bài. + Với phương pháp này, học sinh được khuyến khích coi việc học là công việc của bản thân hơn là việc của các chuyên gia làm hộ các em.
+ Phương pháp này còn cho phép các em học và vui, tự tìm ra câu trả lời cho mình, và một điều gây tranh luận là phương pháp này phát triển động cơ học tập bên trong chứ không phải động cơ bên ngoài. Dạy học khám phá theo các tài liệu của Trần Bá Hoành Theo Trần Bá Hoành, “để sử dụng cách khám phá trong dạy học, trước hết cần phải xây dựng được các toán có tính khám phá: là bài toán được cho gồm có những câu hỏi, những bài toán thành phần để học sinh trong khi trả lời hoặc tìm cách giải các bài toán thành phần dần thể hiện cách giải bài toán ban đầu. Cách giải này thường là những quy tắc hoặc khái niệm mới. Cách xây dựng bài toán để học sinh khám phá: Để dạy trẻ cách khám phá, cần viết lại bài toán theo hướng thiết kế các bài toán thành 7 phần, hướng dẫn cách ghi chép kết quả, đưa ra các câu hỏi dẫn dắt nhằm sau khi thực hiện các yêu cầu được đưa ra cho phép tìm tòi, khám phá nội dung mới.
- Thiết kế các bài toán thành phần phải xuất phát từ logic hình thành khái niệm để biến thành các bài tính toán, học sinh có thể thực hiện được hoặc tiến hành thao tác hoạt động với đồ vật, với đồ dùng trực quan. - Các câu hỏi dẫn dắt phải dảm bảo giúp học sinh quan sát, tư duy để tìm ra câu trả lời. Việc tìm ra câu trả lời đi dần từ dễ đến khó, từ những điều bộc lộ, dễ thấy đến việc phát huy những quy luật, khái niệm không tường minh, phải thông qua phân tích khái quát hóa mới phát hiện ra được. Khái niệm về khám phá có hướng dẫn Theo từ điển tiếng Anh – Việt: “Discover” là khám phá ra, phát hiện ra, tìm ra, nhận ra, để lộ ra, bộc lộ ra, phơi bày ra; là xác định sự tồn tại, sự hiện diện, một thực tế; là tìm thấy cái mong muốn; thực hiện một tìm kiếm mới.
Các nhà tâm lí học chỉ ra rằng, khám phá là một dạng hoạt động quan trọng của loài người, nhờ có hoạt động khám phá mà loài người mới có thể tồn tại và phát triển một cách phồn vinh như ngày nay. Vì vậy, các nhà giáo dục muốn đưa hoạt động khám phá vào trường phổ thông như là một dạng hoạt động thường xuyên của học sinh trong nhà trường. Trong nhà trường phổ thông, khám phá là hoạt động tư duy, có thể bao gồm quan sát, phân tích, nhận định, đánh giá, nêu giả thuyết, suy luận… nhằm đưa ra những khái niệm, phát hiện ra những tính chất, quy luật. trong các sự vật, hiện tượng và các mối liên hệ giữa chúng.
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: phương pháp dạy học khám phá được xuất phát từ lí thuyết hoạt động của A.L Rubinstien từ những năm 1940. Tuy nhiên, người có công nghiên cứu để áp dụng thành công phương pháp này vào thực tiễn dạy học là Jerme Bruner với tác phẩm nổi tiếng “Quá trình giáo dục”, trong đó tác giả chỉ ra các yếu tố cơ bản của phương pháp dạy học này là: - “Giáo viên nghiên cứu bài đến mức độ sâu cần thiết, tìm kiếm những yếu tố tạo thành tình huống, tạo cơ hội cho hoạt động khám phá, tìm tòi. - Thiết kế các hoạt động của học sinh trên cơ sở đó mà xác định các hoạt động chỉ đạo, tổ chức của giáo viên. 8 - Khéo léo đặt người học vào vị trí của người khám phá (khám phá ra cái mới của bản thân), tổ chức và điều khiển cho quá trình này được diễn ra một cách thuận lợi để từ đó xây dựng kiến thức cho bản thân.
- Học sinh có khả năng tự điều chỉnh nhận thức góp phần tăng cường tính mềm dẻo trong tư duy và năng lực tự học, đây chính là nhân tố quyết định sự phát triển bản thân người học.