Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG XÃ HỘI CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ 5-6 tuổi 1. Các nghiên cứu của nước ngoài Vào năm 2000 đã tổ chức diễn đàn thế giới tại Senegal với chương trình hành động Dakar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó tại Mục tiêu 3 có nêu: "Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kỹ năng sống phù hợp", tại mục tiều 6 yêu cầu: “Khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá kỹ năng sống của người học" [14, tr. Cho nên, học kĩ năng trở thành quyền của người học và chất lượng giáo dục phải được thể hiện cả trong kỹ năng sống của người học.
Do đó, giáo dục kỹ năng cho người học trở thành nhiệm vụ quan trọng của giáo dục các nước, vì thế vấn đề giáo dục kỹ năng cho thế hệ trẻ nói chung, cho trẻ mầm non nói riêng được đông đảo các nước quan tâm. Tại Hội nghị thượng đỉnh về trẻ em do Liên Hiệp Quốc tổ chức ở New York tháng 9-1990, cuốn sách “Để con em vững bước vào đời - Pour un bondeparrt dán la vie” tác giả đã làm rõ nguyên tắc để cứu trẻ em sinh tồn, phải đi đôi với cố gắng làm sao cho cuộc sống ý nghĩa. Những người đang cố gắng bảo vệ, giáo dục và giúp các em trưởng thành cần lấy định đề nói trên làm kim chỉ nam [14, tr. Hiện nay, mặc dù giáo dục kỹ năng sống trong đó có KNXH cho thế hệ trẻ đã được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm và đưa vào chương trình dạy học cho trẻ dưới nhiều hình thức khác nhau, song nội dung giáo dục KNXH được triển khai ở các nước vừa thể hiện được cái chung, vừa mang những nét riêng của từng quốc gia dân tộc.
Những kinh nghiệm GDKNXH trong nhà trường ở các nước cho thấy nó thúc đẩy mối quan hệ tích cực hơn giữa trẻ mầm non và giáo viên, đem đến hứng thú học tập cho trẻ do trẻ cảm thấy được tham gia vào những vần đề liên quan đến cuộc sống của bản thân, cũng như đem đến bầu không khí năng động hơn trong lớp học cũng như trong nhà trường như một số nước điển hình đã thành công trong việc GDKNXH cho trẻ trong nhà trường nhưng vẫn được Tổ chức Y tế thế giới hoặc của UNESCO vẫn công nhận cách giáo dục KNXH ở các nước đem lại thế hệ tương lai vững chắc cho mỗi quốc gia. Do Thái là một trong những dân tộc ưu tú trên thế giới, đã sản sinh ra những danh nhân vĩ đại cho nhân loại. Người Do Thái luôn coi trọng sự phát triển tiềm năng, bồi dưỡng khả năng thiên phú cho trẻ, họ cho rằng trẻ từ 0-6 tuổi là thời kỳ đại não phát triển nhanh nhất, trẻ tiếp thu kiến thức nhanh nhất, giáo dục sớm chính là giúp trẻ phát triển hết năng lực tiềm ẩn, đặt nền tảng vững chắc cho trẻ sau này. 6 Giáo dục mầm non Nhật Bản chú trọng rèn luyện kỹ năng giao tiếp.
Trẻ em được giáo dục về đạo đức không chỉ từ gia đình, nhà trường mà còn bởi xã hội. Trẻ mẫu giáo đã được rèn luyện thực hành đạo đức ngay trong các hoạt động hàng ngày và trở thành kỹ năng giao tiếp, các quy tắc ứng xử. Họ rất quan tâm đến môi trường nuôi dạy con cái; không bao giờ hình thành cho trẻ một thói quen xấu; tôn trọng trẻ em, luôn nói sự thật; chế độ ăn uống cho con phải cân bằng, không ép con ăn; bữa ăn phải được diễn ra trên ghế ăn và bàn ăn. Giáo dục Hoa Kỳ rất coi trọng tinh thần độc lập, tự lực của cá nhân, vì thế, ngay từ khi trẻ một tuổi rưỡi, họ đã bắt đầu dạy cho trẻ các kỹ năng tự phục vụ bản thân.
Họ cho rằng, nắm bắt các kỹ năng tự phục vụ có thể giúp trẻ tăng cường tính độc lập và cảm giác về sự thành công, nó không chỉ có lợi cho sự phát triển của trẻ mà còn giúp ích rất nhiều cho chính những người lớn. Bất cứ sự chăm sóc nào từ phía người lớn cũng phải tạo cho trẻ những cơ hội để rèn luyện cho trẻ các kỹ năng này. Đồng thời, họ cũng đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của gia đình để giúp các kỹ năng mà trẻ được dạy ở lớp được rèn luyện và thực hành ngay tại nhà. Theo tác giả Bùi Viết Phú - Lê Quang Sơn: Chính sách giáo dục hiện nay của chính quyền Obama dành sự ưu tiên không nhỏ cho giáo dục và cần có những cải cách cấp bách, đã đưa “Đầu tư cho các chương trình hành động đối với trẻ ở tuổi mầm non” là vấn đề ưu tiên hàng đầu và cần chú trọng đặc biệt đến kỹ năng của trẻ.
Theo chuyên gia tâm lý trường Đai học Yale – Dorothy G.Singer: các yếu tố môi trường có những tác động nhất định lên trẻ. Việc trẻ tương tác với người lớn thông qua các trò chơi, cũng như việc chơi với các bạn cùng trang lứa là rất quan trọng trong việc phát triển các KNXH cho trẻ [25, tr. Theo học thuyết cổ điển về trò chơi của K.Groos thì trò chơi là một hình thức hoạt động sống mà trong đó các cơ thể non nớt được hoàn thiện. Trong quá trình vui chơi, những đưa trẻ lĩnh hội được những kinh nghiệm lịch sử của loài người.
Nhóm tác giả Sevinç Ölçer, Abide Güngör Aytar (2014) với bài viết Nghiên cứu so sánh về các kỹ năng xã hội của trẻ 5 tuổi và hành vi của cha mẹ. Nghiên cứu này nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa các kỹ năng xã hội của trẻ 5-6 tuổi và hành vi của cha mẹ. Các lấy mẫu của nghiên cứu bao gồm 70 trẻ em ở độ tuổi 5-6 đang đi học tại các trường mẫu giáo, cha mẹ và giáo viên của chúng ở Burdur. Dữ liệu được đánh giá cho 64 trẻ em.
Để trẻ có được nhận thức, môi trường đầu tiên và quan trọng nhất chính là gia đình. Với điểm này về quan điểm, gia đình là môi trường xã hội đầu tiên của trẻ em. Khi trẻ đạt được các kỹ năng xã hội, hành vi của cha và mẹ mà chúng hiển thị trong quá trình tương tác với trẻ, có tầm quan trọng lớn [36]. Năm 2019, trên tạp chí RerearchGate, nhóm tác giả do Maryam Malek viết chính đã viết bài Kỹ năng xã hội ở trẻ em ở nhà và ở trường mầm non.
Nghiên cứu này nhằm điều tra mức độ kỹ năng xã hội ở trẻ em 5-6 tuổi ở nhà và ở trường mầm non và để kiểm tra mối liên hệ giữa kỹ năng xã hội và nền tảng văn hóa và môi trường. Một 7 nghiên cứu cắt ngang sử dụng nhiều giai đoạn phương pháp chọn mẫu theo cụm được thực hiện trên 546 trẻ đang học tại các trung tâm mầm non của một khu đô thị của Iran. Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi kỹ năng xã hội và nhân khẩu học từ phụ huynh và giáo viên. Phát hiện của chúng tôi cho thấy rằng các kỹ năng xã hội của trẻ em gái nhiều hơn kỹ năng xã hội của trẻ em trai ở nhà.
Hơn nữa, phần lớn trẻ em có kỹ năng xã hội ở mức độ trung bình từ cha mẹ và quan điểm của giáo viên. Có một thỏa thuận khiêm tốn giữa phụ huynh và giáo viên trong hầu hết các lĩnh vực kỹ năng xã hội. Hơn nữa, một mối liên hệ có ý nghĩa thống kê đã được báo cáo giữa các lĩnh vực kỹ năng xã hội của trẻ em và thứ hạng sinh của đứa trẻ, tuổi của cha, công việc của cha, tuổi của giáo viên, trình độ học vấn của giáo viên, giáo viên trải nghiệm và lớp học mầm non về số lượng trẻ em và loại lớp học. Theo đó, rủi ro gặp các vấn đề về kỹ năng xã hội được báo cáo là tương đối thấp.
Do đó, hơn cần chú ý đến tình trạng gia đình và đặc điểm của giáo viên và trung tâm mầm non để nâng cao kỹ năng xã hội ở trẻ em [34]. Từ các nghiên cứu trên ta thấy được việc GDKNXH cho trẻ 5-6 tuổi là vô cùng cần thiết. GDKNXH cho trẻ thông qua các hoạt động trải nghiệm ở trường mầm non là rất hợp lý vì trẻ vừa học vừa chơi, chơi để hình thành các KNXH như nhường nhịn bạn cùng chơi, biết chờ đến lượt, biết chia sẻ với bạn,. và ngược lại nhờ có KNXH mà trẻ tham gia chơi tốt vai chơi của mình hơn.
Các nghiên cứu trong nước Trong xu thế quốc tế “hợp tác với nhau”, UNESCO chủ trương đẩy mạnh phát triển giáo dục, đề cao “giáo dục trẻ em trước tuổi đến trường phải là một mục tiêu lớn trong chiến lược giáo dục”, vì vậy GDMN càng ngày càng trở thành vấn đề quan tâm lớn của rất nhiều quốc gia. Đối với lịch sử giáo dục Việt Nam, KNXH và vấn đề GDKNXH cho con người biết đối nhân xử thế đã có mầm mống từ lâu như học ăn, học nói, học gói, học mở, học dăm ba chữ để làm người, học để đối nhân xừ thể, học để ứng phó với thiên nhiên với cuộc sống thường ngày. Đó là những kỹ năng đơn giản nhất mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp với đời sống lúc bấy giờ. Từ thập kỷ 80 trở lại đây vấn đề rèn luyện các KNXH cho trẻ 5-6 tuổi được quan tâm nhiều hơn.
Nghiên cứu các hoạt động nhằm phát triển KNXH của trẻ 5-6 tuổi đã nhận được sự quan tâm của một số nhà khoa học trong nước đề cập đến dưới góc độ nghiên cứu tâm lí học và giáo dục học. Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết trong cuốn“Giáo trình giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ em” (2006) [36,tr.24] đã chỉ ra những hành vi văn hóa cần giáo dục cho trẻ dưới 6 tuổi. Việc giáo dục những hành vi văn hóa này có liên hệ mật thiết với việc GDKNXH cho trẻ trong độ 5-6 tuổi như là: Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với bản thân; Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với thiên nhiên; Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với đồ dùng, đồ chơi; Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ đối với người 8 xung quanh.