Chương 1: Cơ sở lí luận về vai trò của đội ngũ giáo viên phổ thông trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo. Khái niệm giáo viên phổ thông và đặc điểm lao động của giáo viên phổ thông. Khái niệm giáo viên phổ thông. Có thể khẳng định một điều rằng đội ngũ giáo viên là một bộ phận thuộc tầng lớp trí thức.
Do đó, để hiểu được một cách chính xác về khái niệm giáo viên cũng như giáo viên phổ thông thì trước hết cần phải có sự hiểu biết về khái niệm “trí thức”. Thật ra, khái niệm “trí thức” bắt nguồn từ tiếng La tinh “Interlligentia” có nghĩa là sự hiểu biết, sự thông minh. Ngay từ những năm nửa sau thế kỉ XIX, khái niệm này trở nên thông dụng để chỉ những người có học thức, học vấn cao, làm nghề lao động trí óc và có lương tri. Trong từng giai đoạn lịch sử, ở mỗi quốc gia, dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau của các nhà khoa học mà đưa ra những định nghĩa “trí thức” khác nhau.
Nhưng nói chung, trong nhiều định nghĩa “trí thức” đều cho thấy “trí thức” có một số đặc trưng cơ bản: Là một tầng lớp xã hội, có lao động trí óc phức tạp, có trình độ học vấn chuyên môn cao, sáng tạo tri thức mới, truyền đạt và vận dụng tri thức vào đời sống để đẩy mạnh sự phát triển của xã hội. Như vậy, khẳng định đội ngũ giáo viên là một bộ phận thuộc tầng lớp “trí thức”, tức là đã khẳng định đội ngũ giáo viên phải có những đặc trưng cơ bản của tầng lớp “trí thức”. Có nghĩa là đội ngũ giáo viên cũng là một tầng lớp xã hội, có lao động trí óc phức tạp, có trình độ học vấn chuyên môn cao, sáng tạo tri thức mới, truyền đạt và vận dụng tri thức vào đời sống để đẩy mạnh sự phát triển của xã hội. Tất nhiên, trên đây chỉ là sự nhìn nhận chung về đội ngũ giáo viên với tư cách là một tầng lớp “trí thức”.
Nếu đi sâu vào đặc điểm nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên thì khái niệm về đội ngũ giáo viên sẽ có những nét riêng nhất định. Theo từ điển Tiếng Việt, giáo viên là người dạy học. Còn theo Điều 70 Luật Giáo dục năm 2005 ở nước ta thì giáo viên là nhà giáo dạy ở cơ sở giáo Trang 6 Khoá luận tốt nghiệp đại học sư phạm SVTH: Danh Thị Mỹ Hạnh dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp (nhà giáo giảng dạy ở giáo dục đại học và sau đại học gọi là giảng viên). Như vậy, nói đến giáo viên là nói đến nghề dạy học.
Vậy “dạy học” là nghề như thế nào? “Dạy học” theo quan niệm dân gian thường gọi là nghề “gõ đầu trẻ”. Tuy nhiên, “dạy học” không chỉ đơn giản là “gõ đầu trẻ” mà nó là cả một quá trình vận động hết sức phức tạp của người dạy, đòi hỏi phải có trí tuệ cao, có lòng yêu nghề, quý trẻ, có lý tưởng phấn đấu vì tương lai của đất nước. “Dạy học” là một bộ phận của quá trình giáo dục, là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người (kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo) để phát triển những năng lực và phẩm chất của người học theo mục đích giáo dục [27; 11]. Để thực hiện được quá trình dạy học thì người giáo viên phải có sự chuẩn bị rất công phu, làm sao để có được một tiết dạy hiệu quả nhất, giúp học sinh không những nắm vững được kiến thức của bài học mà phải biết vận dụng liên hệ thực tế bên ngoài xã hội.
Từ những vấn đề được nêu lên ở trên, có thể khẳng định giáo viên có một số đặc trưng cơ bản: Là một bộ phận của tầng lớp trí thức; thực hiện nhiệm vụ giảng dạy ở các cơ sở giáo dục; có mục tiêu nghề nghiệp là phát triển những năng lực và phẩm chất của người học; thực hiện mục đích giáo dục. Từ những đặc trưng đó, có thể nêu lên khái niệm giáo viên như sau: Giáo viên là một bộ phận của tầng lớp “trí thức”, thực hiện nhiệm vụ giảng dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp nhằm phát triển những năng lực và phẩm chất của người học theo mục đích giáo dục. Như vậy, khái niệm giáo viên phổ thông cũng như khái niệm giáo viên nhưng được thu hẹp hơn: Giáo viên phổ thông là một bộ phận của tầng lớp “trí thức”, thực hiện nhiệm vụ giảng dạy ở cơ sở giáo dục phổ thông (giáo dục Tiểu học, giáo dục Trung học cơ sở, giáo dục Trung học phổ thông) nhằm phát triển những năng lực và phẩm chất của người học theo mục đích giáo dục. Tóm lại, giáo viên phổ thông nói riêng, đội ngũ giáo viên nói chung hay các tầng lớp “trí thức” khác đều là những tầng lớp xã hội, có trí tuệ cao và sử dụng những trí tuệ đó vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước.
Trong đó, Trang 7 Khoá luận tốt nghiệp đại học sư phạm SVTH: Danh Thị Mỹ Hạnh đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên phổ thông có nhiệm vụ rất thiêng liêng và cao cả, trực tiếp truyền đạt và hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ - thế hệ tương lai của đất nước. Đặc điểm lao động của giáo viên phổ thông. Hoạt động dạy học của giáo viên phổ thông là hoạt động đòi hỏi có trí tuệ và sự sáng tạo cao. Nghề dạy học là lao động trí óc, có đối tượng là con người, là sự phát triển nhân cách học sinh.
Mỗi học sinh đều có mức xuất phát, có sự phát triển về mặt tâm lí, thể chất và xã hội khác nhau. Mỗi thầy giáo không chỉ dạy cho một học sinh mà cùng một lúc phải dạy cho hàng chục em học sinh. Do đặc điểm đó, lao động của người thầy giáo không những đòi hỏi sự vận dụng trí tuệ nhiều mặt mà phải có tính sáng tạo cao, phải sử dụng nhiều giác quan, có tính tự chủ và phản ứng rất nhanh nhạy. Khi soạn bài, nội dung và phương giảng dạy phải thích hợp với một đối tượng hết sức đa dạng.
Đó chính là đặc thù lao động của nghề dạy học, nó đòi hỏi người thầy giáo phải có trí thức nhiều mặt [17; 20]. Trong giảng dạy và giáo dục người thầy không những ứng xử nhanh nhạy, khoa học, mà còn phải không máy móc, không có một quy trình có sẵn, người thầy phải hết sức sáng tạo cho phù hợp với từng đối tượng cụ thể. Trong hoạt động soạn bài, người thầy giáo phải tập trung thần kinh nhiều nhất, phải vận dụng tri thức nhiều nhất trong việc lực chọn nội dung giảng dạy, phương pháp giảng dạy, hướng dẫn và ra bài tập cho học sinh học tập ở nhà. Hoạt động giảng bài, đòi hỏi sự tập trung trí tuệ, sự lao động trí óc căng thẳng không kém.
Tạo ra nhiều tình huống sinh động để lôi cuốn sự tích cực học tập của học sinh, đưa ra hệ thống câu hỏi hay, dễ hiểu, phù hợp với nội dung bài giảng và phải có phương pháp tác động tích cực để học sinh hăng say tham gia phát biểu xây dựng bài. Trong quá trình giảng dạy, người thầy không chỉ truyền đạt cho học sinh những kiến thức trong sách giáo khoa mà còn phải biết liên hệ thực tế ngoài cuộc sống. Điều đó đòi hỏi người thầy giáo phải có vốn kiến thức sâu, rộng, nắm bắt được các hiện tượng ngoài xã hội để liên hệ vào bài giảng, thông qua đó giáo dục ý thức cho học sinh. Người giáo viên phải có đầu óc sáng tạo, khi đó họ sẽ không có cảm giác “cháy giáo án”.
Biết rằng dự tính trước là việc làm cần thiết trong mọi hình thức lao động. Nhưng đối với công tác dạy học, do đối tượng là những con người có thế giới tâm lý muôn hình muôn vẻ và luôn luôn Trang 8 Khoá luận tốt nghiệp đại học sư phạm SVTH: Danh Thị Mỹ Hạnh thay đổi, nên bất cứ lúc nào trước mắt người giáo viên cũng có thể xuất hiện những vấn đề mới. Trong các điều kiện mới đòi hỏi người giáo viên phải quyết định kịp thời các biện pháp giải quyết. Có người nói: “Muốn sáng tạo thì phải có cảm hứng của nhà giáo” [17; 76].
Điều đó là hoàn toàn đúng, cảm hứng là sản phẩm của sự lao động chuẩn bị kỹ càng của người giáo viên. Khi đó cảm hứng sẽ giúp cho người giáo viên luôn thành công hơn và đi đến sự sáng tạo cái mới. Lao động của giáo viên phổ thông không chỉ là lao động trí óc mà còn lao động chân tay. Trong hoạt động giảng bài trên lớp của giáo viên cần có nhiều hành động phối hợp nhuần nhuyễn, đòi hỏi giáo viên phải am hiểu tường tận học sinh, bài giảng, phải có sự chuẩn bị rất công phu từ ở nhà.
Giáo viên phải hoạt động liên tục cả buổi (trừ những phút giải lao giữa các tiết học), trong giảng dạy yêu cầu giáo viên phải nói to, rõ, ngôn ngữ chuẩn xác, trong sáng. Ở bậc Tiểu học, giáo viên không thể giảng dạy theo lối thuyết trình mà phải vừa nói, vừa viết, vừa hướng dẫn học sinh làm theo từng thao tác rất nhỏ công phu, đòi hỏi giáo viên phải hướng dẫn tỉ mỉ tới từng học sinh. Ở những lớp đầu cấp, học sinh chưa có nề nếp học tập, nên giáo viên muốn dạy tốt thì phải có tính kiên trì cao độ, uốn nắn từng thao tác nhỏ, hình thành từng nếp nhỏ ở từng học sinh. Việc xử lí các tình huống xảy ra trong tiết học rất phong phú, phức tạp, đa dạng.
Càng ở lớp bé giáo viên càng phải vừa dạy dỗ, vừa là “quan tòa” xử lí các vụ kiện trẻ em: “Thưa cô bạn cấu em”, “thưa cô bạn nói chuyện”,… Giáo viên phải có khả năng phân phối sự chú ý cao và nghệ thuật khéo léo đối xử sư phạm [17; 16]. Người thầy giáo phải hao tổn trí não và thể lực thông qua hoạt động quan trọng là nói, nói trong phần khá lớn thời gian, trong tuần, trong tháng, trong năm, nói sao cho học sinh hiểu được, nghe được, nói vừa đủ cho 40, 50, 60 học sinh cùng nghe rõ. Đồng thời mỗi lời nói, mỗi câu nói, mỗi ý phải có đầy đủ ý nghĩa khoa học và giáo dục. Tất nhiên là song song với lời nói phải có việc biểu diễn, làm mẫu, trong các công tác thực hành thí nghiệm, lao động sản xuất, lao động kỹ thuật, hoạt động xã hội, rèn luyện thân thể.