Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục kỹ năng mềm cho học sinh Trung học cơ sở thông qua công tác giáo viên chủ nhiệm. Chương 2: Thực trạng giáo dục kỹ năng mềm cho học sinh lớp 8 tại trường Trung học cơ sở Linh Đông, quận Thủ Đức. Chương 3: Đề xuất phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho học sinh lớp 8 thông qua công tác giáo viên chủ nhiệm. Luan van 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM 1.
Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Ngay từ những năm 60 của thế kỷ 20, tổ chức UNESCO đã vạch rõ ba thành tố của học vấn, đó là: kiến thức, kỹ năng và thái độ, trong đó thái độ và kỹ năng đóng vai trò then chốt [28]. Chính thái độ tích cực, năng động, dấn thân,. và những kỹ năng cần thiết trong học tập và làm việc, trong quan hệ giao tiếp, trong xử trí, ứng phó trước những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống đã chủ yếu giúp cho người học tự tin để vững bước tới một tương lai có định hướng.
Bên cạnh đó, những nghiên cứu của UNESCO về khái niệm KNS cho rằng “KNS là năng lực cá nhân giúp cho việc thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày”. Đồng thời không thể không kể đến tổ chức WHO cũng nghiên cứu về KNS như một năng lực cá nhân với những tác động có chủ đích đặc sắc về phương pháp [16, tr. Trên thế giới thuật ngữ “Kỹ năng sống” đã xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF từ những năm 90 của thế kỷ XX, trước tiên là chương trình “giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ [24]. Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này thống nhất một số quan niệm chung về KNS và hệ thống các kỹ năng cơ bản cần có cho thế hệ trẻ.
Dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước trong đó có các nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về KNS nêu trên [6]. Luan van 6 Khái niệm “Kỹ năng mềm” được bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ 20, rồi nở rộ vào những năm đầu thế kỷ 21 này. Kỹ năng mềm bắt đầu được đề cập đến không phải từ các cơ quan giáo dục mà là của các cơ quan chăm sóc nguồn nhân lực của Cộng đồng chung Châu Âu (EU) của Canada, rồi lần lượt các nước: Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… đề cập và trở thành trào lưu thế giới. Năm 1989, Bộ Lao động Mỹ (The U.
Department of Labor) cũng đã thành lập một Ủy ban Thư ký về Rèn luyện các Kỹ năng Cần thiết (The Secretary’s Commission on Achieving Necessary Skils – SCANS). Thành viên của ủy ban này đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, kinh doanh, doanh nhân, người lao động, công chức… nhằm mục đích “thúc đẩy nền kinh tế bằng nguồn lao động kỹ năng cao và công việc thu nhập cao”. Họ khẳng định rằng chỉ trang bị những kỹ năng cần thiết cho người lao động mà đặc biệt là những kỹ năng để họ thích ứng thì mới cải thiện được những hiệu quả lao động [19, tr. Bộ Lao động Mỹ (The U.
Department of Labor) cùng Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ (The American Society of Training and Development) gần đây đã thực hiện một cuộc nghiên cứu về các kỹ năng cơ bản trong công việc. Kết luận được đưa ra là có 13 kỹ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc. Tại Úc, Hội đồng Kinh doanh Úc (The Business Council of Australia - BCA) và Phòng thương mại và công nghiệp Úc (the Australian Chamber of Commerce and Industry - ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học (the Department of Education, Science and Training - DEST) và Hội đồng giáo dục quốc gia Úc (the Australian National Training Authority - ANTA) đã xuất bản cuốn “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” (năm 2002). Cuốn sách cho thấy các kỹ năng và kiến thức mà người sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc phải có.
Kỹ năng hành nghề (employability skills) là các kỹ năng cần thiết không chỉ để có được việc làm mà còn để tiến bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức. Các kỹ năng hành nghề bao gồm có 8 kỹ năng [25]. Luan van 7 Chính phủ Canada cũng có một bộ phụ trách về việc phát triển kỹ năng cho người lao động. Bộ Phát triển Nguồn Nhân lực và Kỹ năng Canada (Human Resources and Skills Development Canada - HRSDC) có nhiệm vụ xây dựng nguồn nhân lực mạnh và có năng lực cạnh tranh, giúp người Canada nâng cao năng lực ra quyết định và năng suất làm việc để nâng cao chất lượng cuộc sống.
Bộ này cũng có những nghiên cứu để đưa ra danh sách các kỹ năng cần thiết đối với người lao động. Conference Board of Canada là một tổ chức phi lợi nhuận của Canada dành riêng cho nghiên cứu và phân tích các xu hướng kinh tế, cũng như năng lực hoạt động các tổ chức và các vấn đề chính sách công cộng. Tổ chức này cũng đã có nghiên cứu và đưa ra danh sách các kỹ năng hành nghề cho thế kỷ 21 (Employability Skills 2000+) [25]. Chính phủ Anh cũng có cơ quan chuyên trách về phát triển kỹ năng cho người lao động.
Bộ Đổi mới, Đại học và Kỹ năng được chính phủ thành lập từ ngày 28/6/2007, đến tháng 6/2009 thì được ghép với Bộ Kinh tế, Doanh nghiệp và Đổi mới Pháp chế để tạo nên bộ mới là Bộ Kinh tế, Đổi mới và Kỹ năng. Bộ này chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến việc học tập của người lớn, một phần của giáo dục nâng cao, kỹ năng, khoa học và đổi mới. Cơ quan chứng nhận chương trình và tiêu chuẩn (Qualification and Curriculum Authority) cũng đưa ra danh sách các kỹ năng quan trọng [25]. Chính phủ Singapore có Cục phát triển lao động WDA (Workforce Development Agency), WDA đã thiết lập hệ thống các kỹ năng hành nghề ESS (Singapore Employability Skills System) gồm 10 kỹ năng [25].
Một cuộc khảo sát 461 lãnh đạo doanh nghiệp của Hiệp hội Quản trị Nhân sự Hoa Kỳ cho thấy, các nhà quản lý tập đoàn tuy khẳng định các kỹ năng “cứng” cơ bản vẫn giữ vai trò quan trọng, nhưng kỹ năng "mềm" ngày càng trở nên thiết yếu để dẫn đến thành công. Tương đồng với nhận định trên, trong một hội nghị về kỹ năng “mềm” giữa Bộ Lao động Hoa Kỳ và nhóm doanh nghiệp Hoa Kỳ ưu tú năm 2007, nhóm doanh nghiệp này cũng xác định các kỹ năng cần thiết cho một lao động của thế kỷ XXI. Lei Han, chuyên gia cố vấn nghề nghiệp tốt nghiệp trường Luan van 8 kinh doanh danh tiếng Wharton (Mỹ) thống kê có 28 kỹ năng “mềm” khác nhau. Challa Ram Phani, giáo sư môn Giao tiếp kinh doanh thuộc trường kinh doanh Sujana (Ấn Độ) công bố danh sách 60 kỹ năng “mềm” gây tranh cãi trong giới nhân sự và nghiên cứu kỹ năng [25].
Đối với các nước ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương thì việc nghiên cứu KNS theo hướng áp dụng thử nghiệm hoặc theo hướng ứng dụng trong quá trình huấn luyện là chủ yếu. Các nước như Lào, Campuchia, Malaysia, Bangladesh chương trình giáo dục KNS được đưa vào lĩnh vực giáo dục chính quy dưới dạng tích hợp vào các môn học cơ bản hay một môn riêng. Còn một số nước khác thì tập trung vào lĩnh vực phi chính quy như Inđônêsia, Thái Lan, Ấn Độ, Nepal, Philipine, Bhutan. Những nội dung giáo dục chủ yếu ở hầu hết các nước này là trang bị cho người trẻ tuổi những KNS cần thiết nhằm nâng cao tiềm năng của con người, để có hành vi thích ứng và tích cực đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống, mục đích chính là dạy – trang bị và hình thành [7, tr.
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đề xuất bốn trụ cột của giáo dục trong thế kỷ XXI bao gồm: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để tự khẳng định mình. Điều này, một lần nữa khẳng định giáo dục KNM cho học sinh có ý nghĩa quan trọng và cần thiết cho những người làm công tác giáo dục phải quan tâm. Tại Việt Nam Ở Việt Nam, dù giáo dục KNS được du nhập vào ngay sau đó nhưng triết lý và phương pháp giáo dục KNS ít nhiều hãy còn lạ lẫm đối với xã hội ta nên chưa được sự quan tâm đúng mức. Hơn nữa, giáo dục tại Việt Nam nhìn chung còn chưa phát triển.
Ngoại trừ một số ít các trung tâm giáo dục phi chính quy hay một số trường giáo dục trẻ khuyết tật, một số ít các trường tiểu học trọng điểm ở Hà Nội,… có các chương trình giáo dục KNS. Còn lại các trường phổ thông nhất là các trường từ bậc THCS trở lên chưa quan tâm nhiều cũng như chưa tạo ra được môi trường học tập trang bị đầy đủ KNS cho thanh thiếu niên học sinh. Luan van 9 Kể từ năm học 2008-2009, Bộ GD-ĐT nước ta đã phát động trong các trường phổ thông trên toàn quốc phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” nhằm mang lại cho học sinh cả nước một “môi trường giáo dục an toàn thân thiện, hiệu quả, phù hợp điều kiện địa phương và đáp ứng nhu cầu xã hội”. Hưởng ứng phong trào này, Trung tâm Giáo dục môi trường và các vấn đề xã hội đã phối hợp với Ban dự án Phát triển giáo dục THPT nhanh chóng xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động nhằm hỗ trợ triển khai đến cơ sở một số nội dung thiết thực.
Ở Thành phố Hồ Chí Minh, các trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, Trần Đại Nghĩa,… chỉ mới lồng ghép việc giáo dục KNS vào trong các buổi hội thảo chuyên đề, sinh hoạt câu lạc bộ từng bộ môn. Bên cạnh đó, dần dần cũng có một số ít cá nhân giáo viên có hứng thú nghiên cứu, vận dụng giáo dục KNS cho học sinh THCS một cách đơn lẻ, tự phát, sáng tạo. Một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình. Năm 2005, với đề tài “Giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam” do Nguyễn Thanh Bình làm trưởng nhóm nghiên cứu.