Đặt vấn đề: Giáo viên tạo ra tình huống có vấn đề, kích thích sự tò mò và hứng thú của HS. Phân tích vấn đề: HS tìm hiểu, phân tích bản chất của vấn đề. Đề xuất giải pháp: HS đƣa ra các giả thuyết hoặc phƣơng án giải quyết. Kiểm chứng giải pháp: Thực hiện các thí nghiệm hoặc thu thập dữ liệu để kiểm chứng giải pháp.
Kết luận và áp dụng: Rút ra kết luận và áp dụng vào tình huống mới. Dạy học theo LAMAP – bàn tay nặn bột Phƣơng pháp dạy học “Bàn tay nặn bột” (La main à la pâte - Lamap) là một phƣơng pháp giáo dục khoa học đƣợc phát triển bởi Georges Charpak, nhà vật lí ngƣời Pháp đoạt giải Nobel, vào năm 1996 [25]. Phƣơng pháp này nhấn mạnh việc 9 học thông qua thực hành, khám phá và suy luận, thay vì chỉ ghi nhớ thông tin một cách thụ động. Phƣơng pháp “Bàn tay nặn bột” đƣợc thiết kế để HS tự mình trải nghiệm, từ đó hình thành các khái niệm khoa học thay vì chỉ tiếp thu kiến thức một cách thụ động từ giáo viên.
Quy trình dạy học theo “Bàn tay nặn bột” thƣờng gồm 5 bƣớc chính [6]: Tình huống xuất phát: Giáo viên đặt ra tình huống thực tế để khơi gợi sự tò mò của HS. Bộc lộ quan niệm ban đầu: HS trình bày những hiểu biết, ý kiến cá nhân về vấn đề đƣợc đặt ra. Đề xuất giải pháp và thiết kế thí nghiệm: HS đề xuất các cách kiểm chứng và thực hiện các thí nghiệm nhằm kiểm tra ý kiến của mình. Thực hành thí nghiệm: HS thực hiện thí nghiệm, thu thập dữ liệu và quan sát.
Kết luận và ứng dụng: HS tổng kết lại kết quả của mình và so sánh với các khái niệm khoa học chuẩn xác. Phƣơng pháp Lamap có nhiều ƣu điểm đáng chú ý, phƣơng pháp này giúp phát triển tƣ duy khoa học, kỹ năng quan sát, và khả năng suy luận của HS. Nó cũng khuyến khích tinh thần làm việc nhóm và kỹ năng giao tiếp thông qua các hoạt động thảo luận và trình bày. Dạy học khám phá (điều tra – truy vấn) Dạy học khám phá, còn đƣợc gọi là dạy học điều tra - truy vấn, là một phƣơng pháp giáo dục tập trung vào việc phát triển kỹ năng tƣ duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề của HS.
Theo Pedaste et al. (2015) [30], phƣơng pháp này khuyến khích HS đặt câu hỏi, tìm kiếm bằng chứng, và xây dựng giải thích dựa trên những phát hiện của họ. Cốt lõi của phƣơng pháp dạy học khám phá là quá trình học tập tích cực, trong đó HS đóng vai trò trung tâm. Hmelo-Silver et al.
(2007) [27] nhấn mạnh rằng thay vì tiếp nhận thông tin một cách thụ động từ giáo viên, HS đƣợc khuyến khích tự khám phá và xây dựng kiến thức thông qua trải nghiệm trực tiếp và suy luận. Điều này không chỉ giúp HS hiểu sâu hơn về nội dung học tập mà còn phát triển các kỹ năng quan trọng nhƣ tƣ duy phản biện, giải quyết vấn đề, và học tập suốt đời. Quy trình dạy học khám phá theo Bybee et al., 2006 thƣờng bao gồm các bƣớc sau [24]: Định hướng: Giáo viên giới thiệu chủ đề và kích thích sự tò mò của 10 HS. Khái niệm hóa: HS đặt câu hỏi và hình thành giả thuyết.
Điều tra: HS lên kế hoạch và tiến hành điều tra để kiểm chứng giả thuyết. Kết luận: HS phân tích dữ liệu, rút ra kết luận và trình bày kết quả. Thảo luận: Cả lớp thảo luận về kết quả và liên hệ với các khái niệm khoa học rộng lớn hơn. Trong quá trình này, vai trò của giáo viên chuyển từ ngƣời cung cấp thông tin sang ngƣời hƣớng dẫn và hỗ trợ.
Crawford (2000) [26] chỉ ra rằng giáo viên tạo ra môi trƣờng học tập khuyến khích sự tò mò và khám phá, đồng thời cung cấp hỗ trợ khi cần thiết để đảm bảo HS không bị lạc hƣớng trong quá trình tìm tòi. Tuy nhiên, phƣơng pháp này cũng đối mặt với một số thách thức. Kirschner et al. (2006) [28] chỉ ra rằng nó đòi hỏi nhiều thời gian và nguồn lực hơn so với phƣơng pháp dạy học truyền thống, giáo viên cần đƣợc đào tạo kỹ lƣỡng để hƣớng dẫn hiệu quả quá trình khám phá của HS, việc đánh giá kết quả học tập trong phƣơng pháp này cũng phức tạp hơn, đòi hỏi các hình thức đánh giá đa dạng và linh hoạt.
Nguyễn Văn Biên (2020) [2] chỉ ra rằng việc triển khai vẫn gặp nhiều khó khăn do hạn chế về cơ sở vật chất và áp lực hoàn thành chƣơng trình học. Dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) Dạy học theo mô hình Trƣờng học mới (VNEN) là một phƣơng pháp giáo dục tiên tiến đƣợc phát triển dựa trên mô hình Escuela Nueva của Colombia. Mô hình này đƣợc áp dụng tại Việt Nam từ năm 2011, nhằm đổi mới phƣơng pháp giảng dạy và cải thiện chất lƣợng giáo dục phổ thông. Điểm đặc trƣng của mô hình trƣờng học mới là hƣớng đến việc phát huy tính tích cực, tự chủ, và sáng tạo của HS thông qua các hoạt động học tập hợp tác và tự quản.
Mô hình VNEN tập trung vào việc [7]: HS là trung tâm: HS đóng vai trò chủ động trong việc tự khám phá và tiếp thu kiến thức, trong khi giáo viên chỉ là ngƣời hƣớng dẫn và hỗ trợ. Tăng cường hoạt động nhóm: HS đƣợc khuyến khích làm việc theo nhóm để trao đổi, thảo luận, và hỗ trợ nhau trong quá trình học tập. Phát triển kỹ năng mềm: Ngoài kiến thức, VNEN còn tập trung rèn luyện các kỹ năng nhƣ tƣ duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, và kỹ năng giao tiếp. Sử dụng tài liệu học tập thân thiện: Giáo trình đƣợc thiết kế 11 nhằm hƣớng dẫn HS tự học qua các câu hỏi mở và nhiệm vụ thực hành, giúp tăng cƣờng tính tƣơng tác và tƣ duy phản biện.
Mô hình này đã đƣợc điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh giáo dục tại Việt Nam, giúp nâng cao chất lƣợng giáo dục tại các vùng nông thôn và miền núi, nơi điều kiện học tập còn khó khăn. Dạy học theo quy trình nghiên cứu khoa học Phƣơng pháp dạy học theo quy trình nghiên cứu khoa học là một cách tiếp cận giáo dục nhằm phát triển tƣ duy phân tích, khả năng giải quyết vấn đề, và khuyến khích HS tham gia vào quá trình tìm tòi, khám phá các hiện tƣợng tự nhiên qua các bƣớc tƣơng tự nhƣ quy trình nghiên cứu khoa học thực sự. Theo Lê Văn Tạc (2017) [17], việc áp dụng phƣơng pháp này trong dạy học không chỉ giúp HS nắm bắt đƣợc kiến thức khoa học mà còn phát triển năng lực nghiên cứu và tƣ duy khoa học, đáp ứng đƣợc yêu cầu của giáo dục hiện đại. Quy trình nghiên cứu khoa học thƣờng đƣợc chia thành các bƣớc cụ thể, giúp HS có thể thực hiện một cách có hệ thống và logic.
Dƣới đây là mô tả chi tiết về các bƣớc trong quy trình: Hình 1. Sơ đồ quy trình nghiên cứu khoa học 12 Dựa vào logic tiến trình nghiên cứu khoa học, tác giả Nguyễn Văn Nghiệp (2019) [15] đã chuyển quy trình nghiên cứu khoa học thành tiến trình dạy học theo sơ đồ sau: Hình 1. Sơ đồ tiến trình dạy học theo quy trình nghiên cứu khoa học Phƣơng pháp dạy học theo quy trình NCKH mang lại nhiều lợi ích cho HS và giáo viên [9], trong đó có: Khuyến khích sự chủ động và sáng tạo: HS đƣợc khuyến khích tham gia chủ động vào quá trình học tập và tự mình tìm kiếm thông tin, tạo ra cơ hội cho sự sáng tạo phát triển. Cải thiện khả năng giao tiếp và làm việc nhóm: HS học cách làm việc cùng nhau trong các nhóm nghiên cứu, từ đó cải thiện khả năng giao tiếp và tƣơng tác xã hội.
Phát triển kỹ năng tư duy phản biện và phân tích: Phƣơng pháp này giúp HS rèn luyện kỹ năng tƣ duy phản biện, từ việc phân tích thông tin cho đến việc đánh giá các nguồn dữ liệu. Kết nối lý thuyết với thực tiễn: HS có cơ hội áp dụng lý thuyết vào thực tế, từ đó hiểu rõ hơn về thế giới xung quanh và các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày. Tạo ra môi trường học tập tích cực: Phƣơng pháp NCKH tạo ra một môi trƣờng học tập thân thiện, nơi HS cảm thấy tự tin khi thể hiện ý tƣởng và thảo luận với bạn bè. Tuy nhiên phƣơng pháp này cần nhiều thời gian để thực hiện và chƣa phù hợp với HS lớp 6.
Dạy học 5 giai đoạn (5E) 13 Phƣơng pháp dạy học 5 giai đoạn, còn đƣợc gọi là mô hình 5E, là một cách tiếp cận giảng dạy dựa trên thuyết kiến tạo và đƣợc phát triển bởi Biological Sciences Curriculum Study (BSCS) vào những năm 1980 bởi Bybee et al. Mô hình này bao gồm năm giai đoạn: Engage, Explore, Explain, Elaborate, và Evaluate, tất cả đều bắt đầu bằng chữ “E” trong tiếng Anh, do đó đƣợc gọi là mô hình 5E: + Giai đoạn đầu tiên, Engage (Thu hút), nhằm kích thích sự tò mò và hứng thú của HS đối với chủ đề học tập. Theo Nguyễn Thị Mai Hƣơng (2019) [13], trong giai đoạn này, giáo viên thƣờng sử dụng các câu hỏi mở, tình huống thực tế hoặc các hoạt động ngắn để thu hút sự chú ý của HS và kích thích họ suy nghĩ về chủ đề. Điều này giúp tạo ra một môi trƣờng học tập tích cực và thúc đẩy động lực học tập của HS.
+ Giai đoạn thứ hai, Explore (Khám phá), cho phép HS tự khám phá và tìm hiểu về chủ đề thông qua các hoạt động thực hành, thí nghiệm hoặc thu thập thông tin. Giáo viên đóng vai trò là ngƣời hƣớng dẫn, khuyến khích HS đặt câu hỏi, thử nghiệm và ghi chép lại kết quả quan sát của mình. Điều này giúp HS phát triển kỹ năng tƣ duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề. + Giai đoạn thứ ba, Explain (Giải thích), là lúc HS trình bày kết quả khám phá của mình và giáo viên giúp HS hiểu rõ hơn về các khái niệm khoa học liên quan.
Giáo viên có thể giới thiệu thuật ngữ mới và giúp HS kết nối kiến thức mới với những gì họ đã biết. Điều này giúp củng cố hiểu biết của HS và phát triển khả năng diễn đạt khoa học. + Giai đoạn thứ tư, Elaborate (Mở rộng), nhằm giúp HS áp dụng kiến thức mới vào các tình huống hoặc vấn đề mới. Lê Văn Tùng (2022) [21] nhấn mạnh tầm quan trọng của giai đoạn này trong việc giúp HS thấy đƣợc sự liên quan của kiến thức khoa học với cuộc sống hàng ngày.
Thông qua các hoạt động mở rộng, HS có cơ hội củng cố và đào sâu hiểu biết của mình về chủ đề.