CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP QUA THAM VẤN CỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1.Ở nước ngoài Cùng với quá trình phát triển kinh tế- xã hội, các quốc gia luôn coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống giáo dục để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về trình độ dân trí, phát triển nguồn nhân lực và nhu cầu giáo dục của người dân. Với sự phát triền mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa và sự ra đời của nền kinh tế tri thức, yêu cầu không ngừng hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân càng là vấn đề quan trọng của cải cách giáo dục hiện đại, vì nó quyết định đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao vị thế quốc gia.
Những nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp được khởi đầu từ các nước công nghiệp Châu Âu. Hoạt động hướng nghiệp bắt nguồn từ công trình nghiên cứu ‘‘ Tổng quan thị trường nghề nghiệp trên thế giới’’ từ đầu thế kỷ XVII của một người Ý, Tomasco Gazoni, được dịch ra nhiều thứ tiếng, tiếng Anh là ‘‘ The Universal Plaza of All the Professions of the World’’. Năm 1631, Poowell, một người Anh xuất bản cuốn ‘‘Tom of All Trades or The Plain Pathway to Perferment’’, một cuốn sách gồm hình ảnh thông tin về các ngành nghề. Năm 1747 xuất bản cuốn ‘‘London Tradesman’’ liệt kê tích hợp tất cả các ngành nghề đang phát triển ở Luân Đôn làm kim chỉ nam cho người trẻ vào đời.[17] Năm 1848 cuốn sách:‘‘Hướng nghiệp chọn nghề’’ xuất hiện ở Pháp đã đề cập tới xu hướng phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển của công nghiệp tạo nên và sự cần thiết phải giúp đỡ thanh niên trong việc lựa chọn nghề nghiệp.
Đây là vấn đề mang tính cấp thiết, thanh niên để đi đúng hướng nghề nghiệp của bản thân rất cần có sự trợ giúp, có đi đúng hướng thì nguồn lao động trẻ trong tương 8 Luan van lai mới được phát huy hiệu quả. Nội dung cuốn sách đã đề cập đến sự phát triển đa dạng của các ngành nghề trong xã hội do sự phát triển của công nghiệp từ đó đã rút ra những kết luận coi giáo dục hướng nghiệp là một vấn đề quan trọng không thể thiếu khi xã hội ngày càng phát triển và cũng là nhân tố thúc đẩy xã hội phát triển.[18] Nói đến tham vấn hướng nghiệp có thể kể đến Frank Parsons – người Mỹ và là một kỹ sư của trường Đại học Cornell. Ngày 01/05/1908 tại trường Đại học Cornell(Mỹ) , Parsonns đãcó bài thuyết giảng mô tả tiến trình tư vấn hướng nghiệp một cách có hệ thống cho 80 người ( cả nam giới và phụ nữ ) – những người đã đến phòng tư vấn việc làm của ông. Bài thuyết giảng này có ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào hướng nghiệp thời bấy giờ.
Cuốn sách nổi tiếng với nhan đề: “Lựa chọn nghề” ( Choosing a Vocation) của Frank Parsons được xuất bản với số lượng lớn vào tháng 5/ 1909, đánh dấu sự xuất hiện của ngành tư vấn nghề. Một trong những đóng góp quan trọng nhất của Parsons đối với hoạt động hướng nghiệp là ông đưa ra mô hình giúp cá nhân lựa chọn nghề. Và cũng từ nghiên cứu năm 1909, Frank Parsons cho rằng, hướng nghiệp cho học sinh cần dựa trên năng lực, năng khiếu, hứng thú, sở thích của cá nhân.[26] Năm 1909, William Healy thành lập: “ Trung tâm chuyên khoa điều hướng trẻ em” ( Child Guidance Clinic), chăm sóc tâm lý giáo dục cho trẻ em khu ổ chuột, đã tác động mạnh vào phong trào tư vấn hướng dẫn giáo dục, hướng nghiệp. Công tác hướng nghiệp trong học đường thật sự phát triển và lớn mạnh ở Mỹ vào những năm đầu của thế kỷ XX.
Trong thập kỷ 1900 – 1909 có 3 người được xem là những người đầu tiên khởi xướng và hệ thống hóa nghiệp vụ tư vấn hướng nghiệp đó là: Jesse B.Davis, Frank Parsons và Cliffort Beer.[25] Cùng với sự ra đời của các lý thuyết hướng nghiệp thì những nghiên cứu về đặc trưng nghề nghiệp cũng được nhiều tổ chức và các nhà nghiên cứu quan tâm. Năm 1468, tác giả Sanches de Arevalo đã đưa ra hệ thống phân loại nghề nghiệp. Năm 1800, ở Anh và Mỹ đã xuất hiện một số thông tin liên quan đến hướng nghiệp và mô tả nghề nghiệp.Đây được coi là những nghiên cứu bước đầu cung cấp thông 9 Luan van tin định hướng nghề nghiệp trong xã hội. Thuật ngữ Counseling( tư vấn, tham vấn) được sử dụng lần đầu tiên khi thiết lập trung tâm tư vấn hướng nghiệp giáo dục tại Detroit năm 1898.[24] Vào những năm 1940, nhà tâm lý học Mỹ J.
L Holland đã nghiên cứu và thừa nhận tự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp, tác giả đã chỉ ra tương ứng với mỗi kiểu nhân cách là một số những nghề nghiệp mà cá nhân có thể chọn để có được kết quả làm việc cao nhất. Lý thuyết này của J. L Holland đã được sử dụng rộng rãi nhất trong thực tiễn hướng nghiệp trên thế giới. Những phát hiện của nghiên cứu này chứng minh tầm quan trọng của các yếu tố: kinh nghiệm học tập, tự đánh giá năng lực nghề nghiệp, lợi ích và kết quả mong đợi trong quá trình phát triển nghề nghiệp của học sinh trung học.
Mối quan hệ các yếu tố này là động, vì vậy, để can thiệp thành công cần phải xem xét mối quan hệ phức tạp giữa các yếu tố và kết hợp một loạt các biện pháp can thiệp ở mức độ đa hệ thống. Các nhà tư vấn nên góp phần vào sự phát triển nghề nghiệp toàn diện giúp học sinh phát triển năng lực nghề nghiệp thông qua hoạt động học tập thiết thực. [27] Ở Nga cuốn sách về hướng nghiệp “Lựa chọn khoa và điểm qua chương trình Đại học tổng hợp” có nêu lên ý nghĩa về lựa chọn nghề khi thi vào trường đại học được xuất bản lần đầu tiên năm 1897 (tác giả giáo sư trường Đại học Tổng hợp Petecbua.Ở Liên bang Nga hướng nghiệp được thực hiện nhằm mục tiêu đảm bảo quyền tự chọn nghề của học sinh, giúp các em tự thể hiện nhân cách trong điều kiện quan hệ thị trường, tôn trọng hứng thú nghề nghiệp của con người, chỉ rõ nhu cầu của thị trường lao động, không ngừng nâng cao trình độ thạo nghề của cá nhân như là điều kiện quan trọng nhất để thoả nguyện yêu cầu phát triển của con người trong lao động. Tại Áo, theo tác giả Julia Zdrahal-Urbeneck thuộc Viện Nghiên cứu Tâm lý và Đào tạo nghề, thành phố Viên: Các bài giáo dục nghề do giáo viên đảm nhiệm.
Từ năm 1998-1999, luật của đất nước này đã thông qua việc áp dụng giáo dục nghề nghiệp cho học sinh lớp 7 và lớp 8 ở tất cả các trường trung học. Ở các trường, hướng nghiệp có thể xem như là môn học phụ trợ hoặc là theo những mong muốn cá nhân 10 Luan van và chiếm khoảng 32 giờ/ năm. Mục tiêu chính của các bài hướng nghiệp là: 1) Phân tích những điểm mạnh, điểm yếu của học sinh; 2)Nhận thức rõ về những mối quan tâm và sở thích của học sinh; và 3)Chuẩn bị tri thức về thế giới nghề nghiệp.[13] Trong giai đoạn hiện nay, thế giới đang bước vào thời kì công nghiệp và phát triển hậu công nghiệp.Xã hội có thêm rất nhiều ngành nghề trong hệ thống nghề nghiệp ở tất cả các lĩnh vực từ nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ…Vì vậy ở tất cả các quốc gia trên thế giới phải xác định vai trò cần thiết của công tác giáo dục hướng nghiệp.Đã xuất hiện trung tâm nghiên cứu khoa học hướng nghiệp, trung tâm hướng nghiệp, đào tạo giáo viên, chuyên gia tư vấn trong và ngoài trường Đại học. Kết quả của công tác giáo dục hướng nghiệp không thể nhìn thấy trong thời gian ngắn mà nó thể hiện trong sự phân công lao động xã hội, kết quả sản xuất xã hội trong thời gian dài.
Kết quả đó còn là sự phù hợp giữa nhu cầu của xã hội và sự đáp ứng được nhu cầu xã hội của người lao động. Như vậy, có thể thấy rằng giáo dục hướng nghiệp và tham vấn hướng nghiệp giữ một vai trò rất quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân của các nước khác nhau trên thế giới.Trong hệ thống giáo dục quốc dân của nhiều nước, các thiết chế giáo dục và tham vấn hướng nghiệp đã được xây dựng ở các cấp giáo dục như THCS, THPT, THCN và ĐH.Để triển khai các mô hình hướng nghiệp tích hợp trong hệ thống giáo dục quốc dân, chính phủ nhiều nước đã có chính sách đồng bộ để duy trì, củng cố các chức năng của giáo dục và tham vấn hướng nghiệp.Hầu hết các nghiên cứu đều khẳng định vai trò quan trọng của hướng nghiệp đối với thanh niên, học sinh là giúp các em chọn được nghề nghiệp phù hợp với năng lực, sở thích, gắn học tập với thực tiễn cuộc sống. Ở trong nước Ở Việt Nam, vấn đề hướng nghiệp đã được một số tác giả bàn đến từ những năm 60 của thế kỷ XX, lúc này những lí luận và thực tiễn hướng nghiệp được xây 11 Luan van dựng dựa trên cơ sở lí luận và kinh nghiệm thực tiễn của Liên Xô ( cũ). Thời kỳ đầu, quan niệm hướng nghiệp đi đôi với giáo dục lao động, giáo dục cho học sinh sẵn sàng bước vào hoạt động nghề nghiệp.
Nhưng phải đến những năm 80 của thế kỷ này thì mới được nhà nước thật sự quan tâm khi nhận rõ nhu cầu chuẩn bị cho học sinh có kỹ năng bước vào cuộc sống. Điều này thể hiện rõ trong :“Hoạt động hướng nghiệp trong trường phổ thông ”( Bộ Giáo dục và Đào tạo- 1984). [4] Cũng từ những năm đầu của thập niên 80 thế kỷ XX, nhà nước Việt Nam đã có những thông tư, văn bản hướng dẫn về hướng nghiệp: Văn bản đầu tiên của nhà nước Việt Nam liên quan đến công tác hướng nghiệp là Quyết định 126/CP ngày 19/03/1981 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn. Năm 1986, Nghị quyết Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định:“Trường phổ thông phải chuyển mạnh theo hướng dạy kiến thức phổ thông cơ bản, lao động kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp và dạy nghề“.
Quyết định số 23/QĐ-HĐBT về một số vấn đề cấp bách trong giáo dục ký ngày 29/03/1989 của Chủ Tịch hội đồng bộ trưởng đã nêu rõ trách nhiệm của ngành giáo dục trong việc chỉ đạo các trường THPT triển khai các hoạt động hướng nghiệp cho học sinh nhằm phát triển kinh tế xã hội của đất nước.