phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu thamkhảo và phụ lục, luận văn bao gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc rèn luyện KNGT choHS lớp 1 thông qua HĐTN Chƣơng 2: Biện pháp rèn luyện KNGT cho HS lớp 1 thông qua HĐTN Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 1 THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm giao tiếp Có nhiều định nghĩa khác nhau về giao tiếp. Mỗi định nghĩa dựa trên một quan điểm riêng của các tác giả trên nhiều góc độ, phƣơng diện nghiên cứu khác nhau.
Giao tiếp thƣờng tham gia vào hoạt động thực tiễn của conngƣời ( lao động, học tập, vui chơi tập thể…) đảm bảo tính định hƣớng cho tác động tham gia vào quá trình thực hiện và kiểm tra hoạt động của con ngƣời. Giao tiếp là nhu cầu của con ngƣời muốn tƣơng tác với mọi ngƣời. - Nhà tâm lý học David K. Benlo đƣa ra nhận định giao tiếp nhƣsau: “Giao tiếp của con ngƣời là một quá trình cố ý hoặc không chủ ý, có ý thức hoặc vô thức, trong đó cảm xúc và suy nghĩ đƣợc thể hiện dƣới dạng thông điệp bằng lời nói hoặc phi ngôn ngữ.
Giao tiếp của con ngƣời diễn ra ở các cấp độ khác nhau: bên trong con ngƣời (imtrapersonnal), giữa con ngƣời với con ngƣời (interpersonal) và công chúng (public). Giao tiếp của con ngƣời là một quá trình năng động, liên tục, không thể đảo ngƣợc, tƣơng tác và theo ngữ cảnh.Andelem, ông cho rằng: “Giao tiếp là quy trình trongđó chúng ta hiểu đƣợc ngƣời khác và làm cho ngƣời khác hiểu đƣợc chúng ta”. Giao tiếp phải đi đến sự phù hợp lẫn nhau giữa con ngƣời với con ngƣời. Nhƣ vậy, nhận định của tác giả về giao tiếp là chƣa thật triệt để.
Bởi lẽ, tác giả chỉ mới đề cập đến sự hiểu biết lẫn nhau của con ngƣời thông qua giao tiếp. HonBen coi: “ Giao tiếp là sự trao đổi với nhau tƣ duy hoặc ý tƣởng bằng lời”. Tác giả đánh giá cao ngôn ngữ bằng lời trong quá trình giao tiếp. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở việc trao đổi tƣ duy, ý tƣởng bằng lời trong 9 quá trình giao tiếp là chƣa thật đầy đủ.
Bởi lẽ, trong thực tế, đểgiao tiếp đem lại đƣợc hiệu quả cao, chủ thể cần phải biết kết hợp cả ngôn ngữ bằng lời và phi ngôn ngữ ( hành động, cử chỉ, biểu cảm…). Nguyễn Văn Đáng - Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: “Giao tiếp là một quá trình trao đổi thông tin giữa các chủ thể, thông qua ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết và ngôn ngữ biểu cảm. Qua đó, mỗi chủ thể tham gia giao tiếp đều hƣớng tới sự đồng thuận mà mình mong muốn”. Có nhiều cách hiểu khác nhau về giao tiếp, nhƣng nhìn vào đó, chúng ta có thể thống nhất cách hiểu nhƣ sau: Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa con người với nhau và có tính đa chiều.
Các đặc điểm tâm lý, văn hóa, xã hội của cá nhân quyết định phong cách của cá nhân trong giao tiếp. Khái niệm kỹ năng giao tiếp Theo tác giả Nguyễn Văn Đồng (2012): “KNGT là năng lực vậndụng có hiệu quả những tri thức về quá trình giao tiếp, về những yếu tố tham gia và tác động tới quá trình này cũng nhƣ sử dụng có hiệu quả và phối hợp hài hòa các phƣơng tiện giao tiếp ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và phƣơng tiện kỹ thuật để đạt đƣợc mục đích đã định trong giao tiếp.”[9] KNGT giúp cá nhân điều phối công việc và kích thích lao động sáng tạo trong công việc. KNGT tốt còn giúp cá nhân tạo dựng hình ảnh tốt về bản thân, xây dựng và cải thiện đƣợc các mối quan hệ xã hội. Do đó, việc phát triển KNGT là rất quan trọng giúp cá nhân thành công trong công việc, trong cuộc sống.
Khái niệm KNGT đƣợc rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đã đƣa ra những quan niệm với cách nhìn và cách khai thác khác nhau. Mỗi nhà nghiên cứu nhìn nhận nó theo một góc độ riêng. KNGT là năng lực tiến hành các thao tác, hành động, kể cả năng lực thể hiện xúc cảm, thái độ nhằm giúp chủ thể trao đổi thông tin, tƣ tƣởng, tình cảm với đối tƣợng giao tiếp. Nói một cách khác, KNGT là toàn bộ những thao tác, cử chỉ, thái độ, ngôn ngữ đƣợc phối hợp hài hòa, hợp lý của cá nhân với cá nhân hay cá nhân với một nhóm xã hội nhằm 10 điều khiển, điều chỉnh đối tƣợng giao tiếp để thực hiện mục tiêu của chủ thể giao tiếp.
KNGT rất quan trọng với mỗi ngƣời. Nó đƣợc cá nhân sử dụng thƣờng xuyên và liên tuc trong cuộc sống hàng ngày. KNGT bao gồm rất nhiều các kỹ năng: kỹ năng chào hỏi, kỹ năng nói lời cảm ơn, xin lỗi, kỹ năng chia sẻ, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng thuyết trình, thuyết phục, kỹ năng diễn đạt, kỹ năng nói lời yêu cầu đề nghị, kĩ năng xử lý tình huống, kỹ năng hợp tác,. KNGT là khả năng vận dụng những kiến thức về quá trình giaotiếp một cách có hiệu quả những yếu tố tham gia và tác động tới quá trình này cũng nhƣ sử dụng có hiệu quả và phối hợp hài hòa các phƣơng tiện giao tiếp phi ngôn ngữ để đạt đƣợc mục đích đã định trong giao tiếp.
KNGT theo chúng tôi hiểu là: KNGT là toàn bộ các thao tác cử chỉ, thái độ, ngôn ngữ được kết hợp hài hòa, hợp lý của cá nhân nhằm giúp chủ thể giao tiếp truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi thông tin để thực hiện mục tiêu giao tiếp của mình. Rèn luyện kỹ năng giao tiếp Tại sao cần phải rèn luyện KNGT? Không phải ai cũng hiểu rõđiều này. Thông qua giao tiếp con ngƣời hiểu nhau hơn. Bạn giao tiếp với ngƣời khác để bày tỏ suy nghĩ, ý kiến, mong muốn của bản thân.
KNGT cũng chính là chìa khóa tạo nên thành công. Giao tiếp tốt giúp công việc hiệu quả hơn, mở ra nhiều cơ hội làm việc, phát triển bản thân. Nó cũng giúp bạn tránh khỏi những rắc rối, hiểu lầm không đáng có. Giao tiếp kém, không biết diễn đạt sẽ khiến bạn dễ bị ngƣời khác hiểu sai, hiểu nhầm.
Đồng thời, giao tiếp tốt sẽ giúp bạn tăng khả năng thích nghi, hòa nhập khi bƣớc vào môi trƣờng mới. Cởi mở trong giao tiếp mọi ngƣời sẽ cảm thấy bạn dễ gần và yêu quý bạn hơn. Vì vậy, rèn luyện KNGT rất quan trọng với mỗi ngƣời. - Theo Đại Từ điển Tiếng Việt: “Rèn luyện là luyện tập thƣờngxuyên qua thực tế để thuần thục, vững vàng hơn”[23].
- Theo Từ điển Tiếng Việt: “Rèn luyện là luyện tập nhiều lầntrong thực tế 11 để đạt đƣợc những phẩm chất hay trình độ vững vàng”[16]. Nhƣ vậy theo nghĩa chung nhất, rèn luyện là việc luyện tập nhiềulần để đạt đến mức thành thạo, thuần thục, vững vàng. Có thể nêu những điểm cơ bản về rèn luyện nhƣ sau: - Là sự lặp lại, luyện tập nhiều lần các hành động trong thực tiễn. - Việc rèn luyện phải đƣợc diễn ra thƣờng xuyên, liên tục.
- Kết quả đạt đƣợc cần mang tính ổn định, bền vững, khôngthay đổi theo điều kiện hoạt động. - Cá nhân luôn phải tự giác, tích cực, cố gắng vƣợt qua khó khăn, thử thách để đảm bảo rèn luyện có hiệu quả cao. Trên cơ sở quan điểm về rèn luyện, chúng tôi cho rằng: Rèn luyệnKNGT cho HS tiểu học là quá trình tổ chức các hoạt động nhằm giúp người học hình thành và rèn luyện các thao tác, hành động để trao đổi, tiếp nhận, xử lý thông tin bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong các mối quan hệ của HS ở nhà trường, gia đình và xã hội góp phần giáo dục kỹ năng sống đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho HS Tiểu học. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học 1.
Đặc điểm tâm sinh lý và giao tiếp của học sinh lớp 1 HS lên lớp 1, bƣớc vào một bậc học mới, năm học đầu tiên trong nhà trƣờng Tiểu học với rất nhiều bỡ ngỡ và cần có nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của mọi ngƣời xung quanh cả ở nhà trƣờng và gia đình. Đồng thời, các hoạt động sinh hoạt, học tập của HS còn phụ thuộc nhiều vào sự chỉ bảo, dẫn dắt của ngƣời lớn. Các em cũng đã bƣớc đầu xác định đƣợc kỉ luật học tập nhƣ: đi học đúng giờ, chăm chú nghe giảng, tự học, giữ gìn trật tự hay chia sẻ bài làm… Về động cơ học tập của HS lớp 1 chƣa thật bền vững, thiênvề cảm tính. Bởi vậy, trong học tập, GV phải tạo cho các em sự hứng thú, kích thích nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, tham gia trải nghiệm.
Tri giác của HS lớp 1 là tri giác không chủ động, mang tính tổng thể, cảm xúc, ít đi sâu vào chi tiết. Trong hoạt động học tập, việc tri giác chỉ dừng ở mức 12 độ nhận biết và gọi tên. Các hình ảnh trực quan sinh động dễ gâyhứng thú và giúp HS tri giác tốt. Trong các HĐTN, nếu HS đƣợc tri giác các hình ảnh động, video clip minh họa sẽ khắc sâu với các em hơn về nội dung bài học, các việc làm tốt qua từng chủ đề HĐTN.
Về mặt tình cảm, HS lớp 1 rất dễ xúc động. Trƣớc những sự vật, hiện tƣợng, con ngƣời cụ thể mà các em tiếp xúc, các em thƣờng có biểu hiện thái độ cảm xúc trực tiếp ra bên ngoài. Các em khó kiểm soát đƣợc tƣ tƣởng, tình cảm của bản thân và đôi khi còn rụt rè nhút nhát. Bởi vậy, GV cần quan tâm đến HS lớp 1 nhiều hơn, chú ý quan sát, điều chỉnh, hƣớng dẫn HS điều khiển cảm xúc theo hƣớng tích cực, tạo môi trƣờng để HS giao tiếp rèn luyện và phát triển bản thân, giúp các em tự tin và hòa đồng trong cuộc sống.
Tƣ duy của HS lớp 1 còn khá đơn giản, thiên về dấu hiệu bênngoài, cụ thể trực quan. HS tƣ duy dựa trên sự quan sát các sự vật để hình thành khái niệm. Từ những việc làm cụ thể, HS tìm hiểu đƣợc ý nghĩa của việc làm để thực hiện tốt những việc làm mà bài học giáo dục. HS lớp 1 có trí tƣởng tƣợng, sáng tạo phong phú, đa dạng.
Cácem có thể làm ra nhiều sản phẩm đẹp mắt dựa trên những ý tƣởng sáng tạo. Tuy nhiên, tƣởng tƣợng của các em vẫn còn đơn giản, chƣa bền vững và dễ thay đổi. Do đó, GV cần có sự đầu tƣ nghiên cứu nội dung HĐTN phù hợp với HS.