Mở đầu (khởi xướng hội thoại); (ii) Duy trì - Mở rộng hội thoại và (iii) Kết thúc hội thoại. Xét theo giai đoạn này, các 12 kĩ năng cần thiết gồm: hiểu cách bắt đầu, tham gia và rời khỏi cuộc trò chuyện cũng như biết khi nào nên duy trì hoặc thay đổi các chủ đề trò chuyện. Xét theo các kĩ năng cần thiết để thực hiện hội thoại gồm: kĩ năng hiểu, kĩ năng nghe, kĩ năng chờ đợi, kĩ năng hồi đáp bằng ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời, kĩ năng luân phiên. Để có thể hội thoại, trẻ phải có khả năng hiểu chủ đề và duy trì được tính hướng đích, hướng đến chủ đề trò chuyện, cần thiết có sự chú ý chung, cùng có sở thích và quan tâm chung (Hutchinson và cộng sự, 2019).
Đối với kĩ năng luân phiên, cuộc hội thoại đòi hỏi phải có sự luân phiên nhanh. Trong đó, người nói diễn đạt rõ ý, trôi chảy, lưu loát và không ngắt lời người khác, không nói những nội dung chồng chéo nhau; người nghe cố gắng đoán trước người nói sẽ kết thúc như thế nào để nối tiếp lượt của mình (Hutchinson và cộng sự, 2019). Trong quá trình hội thoại, phải có sự chờ đợi để chỉ có một người nói trong một thời điểm. Trong một cuộc hội thoại, những đối tác giao tiếp đồng ý với một chủ đề và sau đó phải bám với chủ đề đó, nói đúng nội dung của chủ đề.
Suốt cuộc hội thoại, một chủ đề có thể được phát triển và dẫn đến những chủ đề khác (Hutchinson và cộng sự, 2019). Ngoài các thông tin lời nói, cuộc hội thoại còn được hiểu và duy trì nhờ các tín hiệu phi ngôn ngữ như ánh mắt, biểu cảm khuôn mặt, cử chỉ cơ thể,. Đặc điểm kỹ năng giao tiếp hội thoại của trẻ rối loạn phổ tự kỷ 5-6 tuổi Theo DSM-5, một trong những khiếm khuyết đặc trưng của trẻ RLPTK là không thể bắt chuyện, nhập chuyện và cách đối đáp trong giao tiếp xã hội rất khác thường. Khiếm khuyết này trở thành một trong các tiêu chí để xác định RLPTK.
Điều này cho thấy, trẻ RLPTK có khó khăn trong kĩ năng mở đầu, kĩ năng duy trì hội thoại, đặc biệt là kĩ năng hồi đáp trong hội thoại. Trẻ RLPTK có xu hướng thể hiện sự thiếu hụt trong sử dụng lời nói khi hội thoại, làm hạn chế sự tương tác của họ với những người khác trong môi trường xã hội của họ (APA, 2013). 13 Trẻ RLPTK thường có khiếm khuyết trong khả năng khái quát và duy trì hội thoại với người khác. Sở dĩ trẻ gặp khó khăn trong hội thoại là do khiếm khuyết về thuyết tâm ý và chú ý chung, nói đến khả năng cùng chia sẻ mối quan tâm và khả năng hiểu suy nghĩ, dự định của người khác (Nguyễn Xuân Hải và cộng sự, 2019).
Kĩ năng hội thoại kém thể hiện ở chỗ trẻ RLPTK thường có nhũng tương tác không phù hợp với bạn bè và các thành viên trong gia đình (APA, 2013). Trẻ thường có xu hướng hoặc là thu mình về mặt xã hội (không tương tác, giao tiếp, hội thoại), hoặc là thụ động không có khả năng bắt đầu hội thoại hoặc có hành vi tiếp cận kì quặc. Trẻ dễ rút lui khỏi hội thoại hoặc không quan tâm tới người khác trong quá trình tương tác hoặc thể hiện sự quan tâm theo những cách không phù hợp, khó xử (Trevisan và cộng sự, 2018).4 Khó khăn khi giao tiếp hội thoại của trẻ rối loạn phổ tự kỷ Xét theo các giai đoạn hội thoại, kĩ năng hội thoại của trẻ RLPTK có những khó khăn như sau: 1. Khó khăn khi mở đầu hội thoại Do trẻ không hiểu các bối cảnh hội thoại nên khó nắm bắt được ý kiến của người xung quanh và khó chủ động mở đầu hội thoại và khó thiết lập được hội thoại.
Trẻ RLPTK gặp khó khăn trong việc hiểu mục đích và nguyên tắc giao tiếp nên khó thiết lập được hội thoại. Trẻ gặp khó khăn trong nhìn bạn khi giao tiếp, khởi xướng tương tác giao tiếp hội thoại (Hill và cộng sự. Khó khăn trong duy trì hội thoại Trẻ RLPTK gặp rất nhiều khó khăn trong việc duy trì hội thoại, cụ thể như sau: Hạn chế trong khả năng tập trung chú ý, lắng nghe: Trẻ RLPTK khi giao tiếp với người khác trẻ không chú ý đến người đối thoại mà hay có thái độ thờ ơ, lảng tránh, không quan tâm đến đối tượng giao tiếp như không nghe người đối diện nói, nếu có sự quan tâm thì trẻ không hoặc ít khi nhìn (tương tác mắt) với đối tượng giao tiếp, thiếu ánh mắt chăm chú khi giao tiếp và hội thoại (Trevisan và cộng sự, 2018). Nội dung hội thoại sơ sài: Một số trẻ có thể chỉ thiết lập được những hội thoại đơn giản do thiếu khả năng biểu đạt hoặc thiếu vốn từ hoặc thiếu các cử chỉ, nét mặt, điệu bộ để thu hút người đối diện (Nguyễn Xuân Hải và cộng sự, 2019).
14 Nói sang chủ đề khác: Do không hiểu hoặc hiểu sai nội dung hội thoại, dẫn đến việc trẻ nói những nội dung không phù hợp, sử dụng các chi tiết không liên quan. Khi chủ đề hội thoại không thuộc mối quan tâm, hứng thú của bản thân, trẻ sẽ chuyển sang chủ đề khác mà trẻ rất thích. Khó sử dụng cử chỉ điệu bộ để duy hội thoại: Trẻ RLPTK còn gặp khó khăn trong việc hiểu cử chỉ nét mặt, điệu bộ, ánh mắt của người đối thoại. Trẻ cũng thiếu các cử chỉ thích hợp khi giao tiếp với mọi người như gật đầu/lắc đầu, chỉ vào điều gì đó thú vị (Trevisan và cộng sự, 2018).
Độc chiếm trong hội thoại: Trẻ liên tục nói về điều mà mình quan tâm, thích thú và chủ đề hội thoại đó thường là sở thích của trẻ hay có thể là những thứ trẻ hiểu biết sâu sắc như phương tiện, lịch sử, toán học, nghệ thuật. Trẻ nói một cách say sưa mà không chú ý đến phản ứng thái độ quan tâm của người khác. Thiếu khả năng làm rõ ý kiến: Do những khó khăn về khả năng hiểu và sử dụng từ ngữ hoặc hạn chế trong vốn từ nên trẻ chưa biết cách diễn giải hoặc bổ sung thông tin vào lời hội thoại trước đó (khi được hỏi hoặc gợi ý), hoặc không biết yêu cầu người đối diện giải thích thêm. Nhại lời hoặc lời diễn ngôn rập khuôn: Trẻ chỉ sao chép mô phỏng lại hay là lặp lại những cụm từ hoặc câu nhưng không sử dụng những câu này có mục đích.
Trẻ lặp lại từ và câu ngay lập tức sau khi vừa nghe xong hoặc lặp lời trì hoãn (những gì đã nghe trước đó khá lâu), vì thế nên cuộc hội thoại không thể mở rộng, kéo dài do không có phản hồi có thông tin được đưa ra. Thiếu sự luân phiên: Trẻ gặp hạn chế trong việc chờ đến lượt, ngắt nhịp câu nói; gặp khó khăn trong nhận biết lượt của mình và của người khác để duy trì trong quá trình hội thoại. Trẻ thường không biết chờ đến lượt mình, dẫn đến việc trẻ hay ngắt lời người đối diện khi tham gia hội thoại. Khó khăn khi kết thúc hội thoại - Khó kết thúc hội thoại: Trẻ không biết cách thể hiện bằng lời nói khi muốn dừng cuộc hồi thoại, thay vào đó trẻ thể hiện bằng cách bỏ đi hoặc nhìn ra hướng khác (đơn phương chấm dứt hội thoại).
15 Khó khăn chính của việc trẻ khó kết thúc hội thoại theo hướng tích cực chính là trẻ rập khuôn theo hướng đơn phương kết thúc hội thoại bằng cách bỏ đi hoặc nhìn ra hướng khác, bởi vì trẻ đã không có hứng thú với nội dung hội thoại nên việc bỏ đi và nhìn ra hướng khác làm một lựa chọn tốt nhất đối với trẻ nếu muốn kết thúc nhanh và rời khỏi cuộc hội thoại mà không cần phải suy nghĩ nhiều. Mục tiêu và ý nghĩa phát triển kỹ năng giao tiếp hội thoại cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 1.1 Mục tiêu phát triển kỹ năng giao tiếp hội thoại cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ Với mục đích phát triển KNGT hội thoại cho trẻ RLPTK là nhằm hình thành ở trẻ các kỹ năng như: quan sát, chờ đợi, bắt chước, tập trung chú ý, lần lượt, sử dụng ngôn ngữ…. Phát triển mỗi kĩ năng giao tiếp cho trẻ đều có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển các kĩ năng khác Trong nghiên cứu này, nội dung phát triển KNGT hội thoại cho trẻ RLPTK bao gồm phát triển các kỹ năng cơ bản sau: Kỹ năng mở đầu hội thoại: trẻ hiểu được bối cảnh hội thoại, nắm bắt được ý kiến của mọi người xung quanh, chủ động mở đầu và thiết lập được hội thoại. Trẻ hiểu được mục đích và nguyên tắc giao tiếp, trẻ có giao tiếp mắt khi giao tiếp hội thoại, tự biết khởi xướng tương tác giao tiếp hội thoại.
Kỹ năng duy trì hội thoại: Trẻ tăng khả năng tập trung chú ý và lắng nghe; Phát triển được nội dung hội thoại có ý nghĩa và chiều sâu hơn; hiểu đúng và nói đúng chủ đề hội thoại; sử dụng linh hoạt các cứ chỉ điệu bộ trong hội thoại; biết chú ý đến phản ứng của đối tượng giao tiếp hội thoại, chấm dứt tình trạng độc chiếm trong hội thoại; hạn chế nhại lời và lời nói rập khuôn; hoàn thiện kỹ năng luân phiên khi giao tiếp hội thoại và biết cách tự mình kết thúc hội thoại đúng cách bằng lời nói.2 Ý nghĩa của phát triển kỹ năng giao tiếp hội thoại cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ Phát triển kĩ năng giao tiếp hội thoại giúp cho trẻ có cơ hội gia nhập vào các mối quan hệ xã hội để hình thành “tổng hòa các mối quan hệ xã hội” tạo nên bản chất tâm lý con người. Giúp trẻ có thể tồn tại và phát triển nhân cách. Thông qua giao tiếp trẻ tiếp thu, lĩnh hội các giá trị văn hóa tinh thần trong nền văn hóa xã hội, các chuẩn mực đạo đức xã hội để hình thành và phát triển các phẩm chất nhân cách, đạo đức, 16 hành vi, thói quen. Vì thế kỹ năng giao tiếp hội thoại được xem là một kỹ năng nền tảng và có ý nghĩa quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ Phát triển KNGT hội thoại cho TKT còn có ý nghĩa đối với giáo viên, người chăm sóc trẻ.
Thông qua giao tiếp giáo viên có thể biết được đặc điểm tâm lý, nhu cầu, nguyện vọng và những khó khăn của trẻ cũng như gia đình trẻ. Trên cơ sở đó giáo viên có thể trao đổi, phối hợp giữa nhà trường và gia đình, giữa Giáo viên và trẻ, giữa các Giáo viên với nhau để đưa ra nội dung, phương pháp giáo dục, can thiệp phù hợp, hiệu quả cho trẻ.