Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tính cấp thiết của đề tài

Rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK) là một chứng rối loạn phát triển thần kinh mạn tính có xu hướng gia tăng nhanh chóng trên toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Các nghiên cứu quốc tế ghi nhận tỷ lệ mắc RLPTK tại các nước phát triển đã tăng từ 8 đến 10 lần trong vòng 20 năm qua. Tại Việt Nam, số liệu thống kê qua các giai đoạn cũng phản ánh xu hướng tương tự:

  • Số trẻ đến khám và điều trị RLPTK tại các bệnh viện Nhi năm 2007 tăng gấp 33 đến 50 lần so với năm 2000 (Quách Thúy Minh và cộng sự, 2008).
  • Tỷ lệ mắc RLPTK ghi nhận tại thành phố Thái Nguyên là 5,1‰ (Nguyễn Lan Trang, 2012) và tại tỉnh Thái Bình là 4,6‰ (Nguyễn Thị Hương Giang, 2012).
  • Khảo sát sàng lọc trên 94.186 trẻ từ 18–60 tháng tuổi tại Thái Nguyên, Thái Bình và Hà Nội cho kết quả tỷ lệ 4,15‰ (Nguyễn Thị Hoàng Yến, 2013).
  • Nghiên cứu của Hoàng Văn Minh và cộng sự (2017) trên 40.243 trẻ từ 18–30 tháng tuổi tại 6 tỉnh/thành phố ghi nhận tỷ lệ 7,52‰.
  • Nghiên cứu dịch tễ học của Lê Thị Vui giai đoạn 2017–2019 tại 7 tỉnh, thành phố chỉ ra tỷ lệ mắc là 7,58‰.

Đối với trẻ RLPTK, khiếm khuyết về giao tiếp tương tác xã hội — đặc biệt là kỹ năng giao tiếp hội thoại — là rào cản lớn nhất cản trở quá trình hòa nhập. Ở bậc mầm non, mỗi lớp học có từ 2 đến 3 giáo viên nên việc hỗ trợ trẻ thuận lợi hơn. Tuy nhiên, khi chuyển tiếp lên bậc Tiểu học, mỗi lớp chỉ có 1 giáo viên phụ trách việc bao quát chung, đòi hỏi trẻ phải có phản xạ hội thoại tương đối hoàn chỉnh để trao đổi cùng thầy cô và bạn bè. Do đó, giai đoạn 5–6 tuổi là thời điểm then chốt để can thiệp và thúc đẩy kỹ năng hội thoại, tạo bước đệm chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1.

Tại quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội — địa bàn đầu tiên triển khai mô hình giáo dục hòa nhập cho trẻ RLPTK từ năm 2010 — số lượng trẻ tham gia học hòa nhập đạt kết quả tích cực (năm học 2014–2015 có 152 trẻ RLPTK, chiếm 44% tổng số trẻ khuyết tật toàn quận). Nhằm giải quyết các khó khăn thực tiễn trong công tác can thiệp, tác giả Nguyễn Thị Hạnh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Giáo dục đặc biệt với đề tài: "Phát triển kỹ năng giao tiếp hội thoại cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 5-6 tuổi tại một số trường mầm non hòa nhập trên địa bàn quận Cầu Giấy - thành phố Hà Nội".

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về kỹ năng giao tiếp hội thoại của trẻ RLPTK 5–6 tuổi; trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển kỹ năng giao tiếp hội thoại cho trẻ tại các trường mầm non hòa nhập.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tìm hiểu cơ sở lý luận về phát triển kỹ năng giao tiếp hội thoại của trẻ RLPTK.
    2. Điều tra, đánh giá thực trạng kỹ năng giao tiếp hội thoại của trẻ RLPTK 5–6 tuổi tại các trường mầm non hòa nhập trên địa bàn khảo sát.
    3. Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển kỹ năng giao tiếp hội thoại cho trẻ RLPTK 5–6 tuổi.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các phương pháp phát triển kỹ năng giao tiếp hội thoại của trẻ RLPTK 5–6 tuổi tại trường mầm non hòa nhập.
  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình phát triển kỹ năng giao tiếp hội thoại cho trẻ RLPTK 5–6 tuổi tại trường mầm non hòa nhập.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Phát triển kỹ năng giao tiếp hội thoại cho trẻ RLPTK 5–6 tuổi.
    • Về không gian: Trường Mầm non Hoa Hồng (công lập) và Trường Mầm non Họa Mi (tư thục) trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
    • Về thời gian: Từ tháng 02/2022 đến tháng 04/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và hệ thống khái niệm

Khóa luận vận dụng và tổng hợp các khung lý thuyết, công cụ chẩn đoán và hệ thống khái niệm chuyên ngành:

  • Rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK): Dựa trên tiêu chuẩn phân loại của Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần phiên bản 4 và 5 (DSM-IV, DSM-5 của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ - APA, 2013), phân loại RLPTK dựa trên sự suy giảm tương tác xã hội, giao tiếp và mô hình hành vi rập khuôn. Khóa luận kế thừa định nghĩa: "RLPTK là rối loạn về sự phát triển thường gặp ở trẻ em theo thể dạng rối loạn phát triển lan tỏa thuộc phổ nhẹ, là một khuyết tật phát triển gây ra bởi những khác biệt trong não bộ".
  • Giáo dục hòa nhập cho trẻ RLPTK: Dựa trên định hướng của UNESCO (2019) và các tác giả trong nước (Nguyễn Xuân Hải, Trần Thị Minh Huế, Huỳnh Thị Thu Hằng, Phạm Minh Mục), khóa luận xác định giáo dục hòa nhập là việc hỗ trợ trẻ RLPTK có cơ hội bình đẳng tiếp nhận dịch vụ giáo dục với những hỗ trợ cần thiết trong lớp học thông thường tại nơi sinh sống.
  • Giao tiếp hội thoại: Vận dụng lý thuyết của Thornbury & Slade (2006), Martyn Barrett (1999), Sng và cộng sự (2014) cùng định nghĩa của Nguyễn Thị Cẩm Hường và cộng sự (2022): Giao tiếp hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời, tối thiểu giữa hai nhân vật về một vấn đề nhằm đạt được mục đích đặt ra; yêu cầu sự luân phiên, đổi vai nói - nghe và sử dụng cả tín hiệu ngôn ngữ lẫn phi ngôn ngữ qua 3 giai đoạn:
    1. Giai đoạn mở đầu (Khởi xướng hội thoại);
    2. Giai đoạn duy trì - mở rộng hội thoại;
    3. Giai đoạn kết thúc hội thoại.
  • Các mô hình can thiệp liên quan: Phân tích hành vi ứng dụng (ABA - Ivar Lovaas, 1990), phương pháp Câu chuyện xã hội (Social Stories - Gray, 1994; Scattone, 2008), video làm mẫu (Sherer et al., 2001) và phương pháp Kịch vải.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân tích và tổng hợp các văn bản pháp luật, chính sách, luận văn, luận án, sách chuyên khảo và báo cáo dịch tễ học liên quan đến RLPTK.
  2. Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát tự nhiên biểu hiện giao tiếp hội thoại của trẻ RLPTK trong các hoạt động học tập, vui chơi, ăn ngủ, vệ sinh tại lớp học mầm non hòa nhập.
  3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu trưng cầu ý kiến dành cho giáo viên mầm non, cán bộ quản lý và cha mẹ trẻ RLPTK nhằm khảo sát thực trạng biểu hiện kỹ năng hội thoại và hoạt động hỗ trợ can thiệp.
  4. Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn bán cấu trúc đối với giáo viên mầm non dạy hòa nhập và phụ huynh để làm rõ các khó khăn, nhu cầu hỗ trợ.
  5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm vận dụng các phương pháp can thiệp đề xuất trên đối tượng học sinh cụ thể và tiến hành đo lường, so sánh kết quả trước - sau thực nghiệm.

Nguồn dữ liệu

  • Dữ liệu khảo sát định lượng từ 22 giáo viên mầm non trực tiếp dạy hòa nhập tại 2 trường khảo sát.
  • Dữ liệu đánh giá thực trạng trên 22 trẻ RLPTK độ tuổi 5–6 tuổi theo học tại Trường Mầm non Hoa Hồng và Trường Mầm non Họa Mi, quận Cầu Giấy, Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận về phát triển kỹ năng giao tiếp hội thoại cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về RLPTK và phát triển kỹ năng giao tiếp hội thoại tại Việt Nam và trên thế giới:

  • Đặc điểm phát triển và khiếm khuyết của trẻ RLPTK: Phân tích các dấu hiệu thoái lui ngôn ngữ, khiếm khuyết về Thuyết tâm ý (Theory of Mind), suy giảm khả năng chú ý chung (Joint Attention), các hành vi định hình và 5 dấu hiệu chỉ báo nguy cơ (Trần Thùy Linh, 2012).
  • Cấu trúc và đặc điểm kỹ năng giao tiếp hội thoại: Phân tích 4 thành tố cơ bản (chú ý, lắng nghe, luân phiên, phản hồi) và 3 giai đoạn của một cuộc hội thoại.
  • Những khó khăn đặc thù của trẻ RLPTK khi tham gia hội thoại:
    • Khó khăn khi mở đầu: Khó thiết lập giao tiếp mắt, không hiểu bối cảnh và nguyên tắc tương tác.
    • Khó khăn khi duy trì: Không tập trung chú ý, thiếu luân phiên (nói xen lời hoặc không biết chờ lượt), phản hồi không đúng chủ đề, độc chiếm hội thoại vào sở thích riêng, nhại lời hoặc nói rập khuôn, thiếu khả năng bổ sung thông tin mới.
    • Khó khăn khi kết thúc: Thường đơn phương chấm dứt hội thoại bằng cử chỉ tiêu cực (bỏ đi hoặc nhìn ra hướng khác) thay vì sử dụng lời chào tạm biệt.
  • Các yếu tố ảnh hưởng: Phân tích hai nhóm yếu tố chủ quan (mức độ khiếm khuyết thần kinh của trẻ) và khách quan (năng lực chuyên môn của giáo viên, môi trường gia đình, bạn bè đồng đẳng và cách tổ chức lớp học).
  • Cơ sở lý luận của 3 phương pháp can thiệp đề xuất:
    • Phương pháp Câu chuyện xã hội: Cung cấp cấu trúc hội thoại qua câu miêu tả, câu nhận định, câu chỉ dẫn, câu khẳng định và câu bỏ lửng.
    • Phương pháp Trò chơi hội thoại: Tạo động lực tương tác qua trò chơi quy tắc, phát triển luân phiên và giảm thời gian tiếp xúc thiết bị điện tử.
    • Phương pháp Kịch vải: Hoạt động kể chuyện trên bảng vải giúp trực quan hóa tình huống, tạo môi trường nhập vai và thực hành chào tạm biệt khi kết thúc.

CHƯƠNG 2: Thực trạng phát triển kỹ năng giao tiếp hội thoại cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 5 - 6 tuổi tại một số trường mầm non hòa nhập trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực tế thu thập từ tháng 02/2022 đến tháng 04/2023 tại 2 trường mầm non trên địa bàn quận Cầu Giấy:

Đặc điểm khách thể Tiêu chí phân loại Số lượng ($n$) Tỷ lệ (%)
Giáo viên khảo sát ($n=22$) Giới tính: Nữ 22 100,0
Trình độ: Trung cấp 4 13,3
Trình độ: Cao đẳng 6 20,0
Trình độ: Đại học 17 56,7
Trình độ: Sau Đại học 3 10,0
Trẻ RLPTK khảo sát ($n=22$) Giới tính: Nam 18 81,8
Giới tính: Nữ 4 18,2
Mức độ rối loạn: Nhẹ 12 54,5
Mức độ rối loạn: Trung bình 8 36,4
Mức độ rối loạn: Nặng 2 9,1

Khảo sát kỹ năng hội thoại của 22 trẻ RLPTK qua 3 giai đoạn ghi nhận:

  1. Giai đoạn khởi xướng hội thoại:
    • Biểu hiện đạt cao: Chào hỏi khi gặp người khác (81,8% Đạt; 13,6% Đạt có hỗ trợ; 4,5% Chưa đạt); Nhìn người đối thoại (63,6% Đạt; 18,2% Đạt có hỗ trợ; 18,2% Chưa đạt).
    • Biểu hiện gặp nhiều khó khăn: Đặt câu hỏi tới người đối diện (22,7% Đạt; 45,5% Đạt có hỗ trợ; 31,8% Chưa đạt); Sử dụng cử chỉ điệu bộ để hướng người khác vào mình có tỷ lệ Chưa đạt cao nhất (90,9% Chưa đạt; 9,1% Đạt có hỗ trợ; 0% Đạt).
  2. Giai đoạn duy trì hội thoại:
Biểu hiện kỹ năng duy trì hội thoại Chưa đạt (%) Đạt có hỗ trợ (%) Đạt (%)
Nhìn vào người đối thoại (từ 3 giây trở lên) 0,00 0,00 100,00
Lắng nghe người đối diện nói 45,45 22,73 31,82
Chờ đến lượt mình (luân phiên, không ngắt lời) 45,45 31,82 22,73
Phản hồi bằng cử chỉ điệu bộ (gật, lắc, chỉ tay...) 36,36 18,18 45,45
Phản hồi đúng chủ đề hiện tại 68,18 27,27 4,55
Phản hồi bằng từ ngữ phù hợp (không nhại lời) 40,91 36,36 22,73
Trả lời với lượng thông tin vừa đủ 59,09 31,82 9,09
Thêm thông tin mới vào lời nói để làm rõ ý kiến 95,45 4,55 0,00
Nói đến điều gì mới/thông tin chưa có lúc trước 100,00 0,00 0,00
  1. Giai đoạn kết thúc hội thoại:

    • Dừng cuộc hội thoại bằng cử chỉ (bỏ đi chỗ khác, nhìn ra chỗ khác): 68,18% Đạt (thực hiện theo thói quen tiêu cực); 22,73% Đạt có hỗ trợ; 9,09% Chưa đạt.
    • Dừng cuộc hội thoại bằng cách chào tạm biệt hoặc xin thôi: 0,00% Đạt; 4,55% Đạt có hỗ trợ; 95,45% Chưa đạt.
  2. Khó khăn và thực trạng hỗ trợ của giáo viên:

    • Khó khăn lớn nhất khi duy trì hội thoại: Thiếu sự luân phiên (36,36%), Khó sử dụng cử chỉ điệu bộ (22,73%), Nội dung hội thoại sơ sài (22,73%), Nói lan man sang chủ đề khác (18,18%), Nhại lời/rập khuôn (9,09%), Hạn chế tập trung chú ý (9,09%).
    • Tần suất can thiệp cá nhân của giáo viên: Tăng dần từ 9 buổi/tháng (tháng 9/2022) lên 13 buổi/tháng (tháng 2/2023), 14 buổi/tháng (tháng 3/2023) và đạt 16 buổi/tháng (tháng 4/2023) — tương đương từ 2 buổi/tuần lên 4 buổi/tuần nhằm chuẩn bị chuyển cấp cho trẻ.
    • 6 biện pháp giáo viên sử dụng theo thứ tự ưu tiên: (1) Khuyến khích tham gia hội thoại xen kẽ hoạt động; (2) Hỗ trợ bạn bè tham gia cùng trẻ; (3) Tạo môi trường thân thiện; (4) Dùng câu chuyện xã hội trong tiết cá nhân; (5) Hoàn thiện vòng tay giao tiếp; (6) Tổ chức trò chơi hội thoại.

CHƯƠNG 3: Một số phương pháp phát triển kỹ năng giao tiếp hội thoại cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ

Chương 3 xây dựng hệ thống giải pháp can thiệp và đánh giá kết quả thực nghiệm:

  • Nguyên tắc đề xuất phương pháp: Đảm bảo tính mục đích phát triển; đảm bảo tính phù hợp với đặc điểm và mức độ khuyết tật ở trẻ; đảm bảo khuyến khích tính tích cực, sáng tạo và chủ động.
  • Quy trình triển khai 3 phương pháp can thiệp cụ thể:
    1. Phương pháp Câu chuyện xã hội: Soạn thảo các câu chuyện ngắn có hình ảnh minh họa, lồng ghép câu hỏi bỏ lửng để trẻ phán đoán diễn biến, rèn luyện cách phản hồi theo lượt và xử lý tình huống giao tiếp.
    2. Phương pháp Trò chơi hội thoại: Thiết kế các trò chơi tập thể và nhóm nhỏ đòi hỏi sự trao đổi thông tin, tuân thủ lượt lời, lắng nghe yêu cầu và phối hợp với bạn học.
    3. Phương pháp Kịch vải (kể chuyện bảng vải): Sử dụng các nhân vật bằng vải nỉ gắn trên bảng để trực quan hóa câu chuyện, kích thích trẻ đóng vai nhân vật, biểu đạt cảm xúc và thực hành kỹ năng kết thúc hội thoại (chào tạm biệt, xin phép rời đi).
  • Tổ chức thực nghiệm sư phạm: Tiến hành can thiệp trên nhóm học sinh mẫu giáo lớn được lựa chọn; theo dõi và đo lường biểu hiện ở 3 giai đoạn (Khởi xướng, Duy trì, Kết thúc) trước và sau thực nghiệm để chứng minh tính hiệu quả của các phương pháp.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Bức tranh thực trạng chi tiết về kỹ năng hội thoại của trẻ RLPTK 5–6 tuổi: Khảo sát xác định rõ trẻ có thế mạnh ở một số kỹ năng cơ bản (100% trẻ duy trì giao tiếp mắt trên 3 giây khi hội thoại, 81,8% biết chào hỏi khi gặp người khác). Tuy nhiên, mức độ khiếm khuyết tăng rõ rệt ở các kỹ năng đòi hỏi tư duy ngôn ngữ bậc cao:
    • 90,9% trẻ chưa đạt kỹ năng sử dụng cử chỉ điệu bộ để hướng sự chú ý của người khác vào mình khi khởi xướng.
    • 68,18% không phản hồi đúng chủ đề cuộc hội thoại; 45,45% không thể chờ đến lượt mình (nói chen lời hoặc ngắt lời); 95,45% không thể tự thêm thông tin mới để làm rõ ý kiến và 100% không cung cấp được thông tin mới chưa có trước đó.
    • 95,45% trẻ chưa biết cách kết thúc hội thoại bằng lời nói (chào tạm biệt hoặc xin thôi), có tới 68,18% trẻ tự ý chấm dứt hội thoại bằng cách bỏ đi hoặc quay mặt đi chỗ khác.
  • Đánh giá hoạt động can thiệp tại cơ sở: Khảo sát chỉ ra giáo viên mầm non đã chủ động tăng tần suất can thiệp cá nhân từ 9 buổi/tháng lên 16 buổi/tháng (25–35 phút/buổi) vào giai đoạn cuối năm học; tuy nhiên việc áp dụng các biện pháp chuyên sâu (trò chơi hội thoại, câu chuyện xã hội, kịch vải) vẫn gặp khó khăn do thiếu học cụ chuyên biệt và áp lực quản lý lớp học hòa nhập.

Đề xuất và giải pháp của tác giả

  • Đề xuất quy trình can thiệp tích hợp 3 phương pháp bổ trợ lẫn nhau: Câu chuyện xã hội (giúp nhận thức tình huống), Trò chơi hội thoại (rèn luyện phản xạ luân phiên) và Kịch vải (trực quan hóa bối cảnh và cảm xúc).
  • Kiến nghị nhà trường tuyển dụng thêm giáo viên chuyên ngành Giáo dục đặc biệt để hỗ trợ chuyên môn cho giáo viên mầm non, đồng thời đầu tư trang thiết bị, đồ dùng dạy học chuyên biệt và tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng can thiệp cho phụ huynh.

Đóng góp về mặt học thuật

  • Bổ sung dữ liệu thực nghiệm và khảo sát thực địa về kỹ năng giao tiếp hội thoại — một lĩnh vực chuyên sâu ít được khai thác độc lập so với các đề tài giao tiếp chung — ở nhóm trẻ RLPTK 5–6 tuổi tại các trường mầm non hòa nhập trên địa bàn Hà Nội.
  • Đóng góp khung tiêu chí đánh giá kỹ năng hội thoại dựa trên 3 giai đoạn (khởi xướng, duy trì, kết thúc) làm tài liệu tham khảo cho công tác đánh giá và can thiệp giáo dục đặc biệt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực trạng và thực nghiệm của đề tài chỉ giới hạn tại 2 trường mầm non (1 công lập, 1 tư thục) trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội với cỡ mẫu 22 trẻ và 22 giáo viên. Quy mô mẫu này phản ánh đặc thù cục bộ của địa bàn đô thị, chưa đại diện cho toàn bộ hệ thống giáo dục hòa nhập ở các vùng nông thôn hoặc các tỉnh thành khác. Ngoài ra, tiến độ can thiệp còn bị gián đoạn cục bộ bởi các sự kiện ngoại khóa và lịch nghỉ lễ của trường mầm non.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô khảo sát trên nhiều cơ sở giáo dục mầm non hòa nhập ở các quận/huyện khác nhau; nghiên cứu sâu hơn về quy trình phối hợp đồng bộ giữa nhà trường và gia đình trong việc duy trì các bài tập can thiệp hội thoại tại nhà.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học và giảng viên thuộc các chuyên ngành Giáo dục đặc biệt, Giáo dục mầm non, Tâm lý học phát triển.
    • Giáo viên mầm non đang trực tiếp giảng dạy tại các cơ sở giáo dục hòa nhập có tiếp nhận học sinh RLPTK.
    • Cha mẹ và người chăm sóc trẻ RLPTK đang chuẩn bị cho trẻ bước vào độ tuổi tiểu học.
  • Phần nội dung đáng tham khảo:
    • Bảng tiêu chí và số liệu đánh giá chi tiết mức độ thực hiện kỹ năng hội thoại qua 3 giai đoạn (Chương 2, Bảng 2.3 và các Biểu đồ).
    • Khung quy trình và cách thức xây dựng bài tập can thiệp bằng phương pháp Câu chuyện xã hội, Trò chơi hội thoại và Kịch vải (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao đề tài tập trung vào đối tượng trẻ RLPTK ở độ tuổi 5–6 tuổi?

Độ tuổi 5–6 tuổi là giai đoạn bản lề chuẩn bị chuyển tiếp từ mầm non lên tiểu học. Ở bậc tiểu học, tỷ lệ giáo viên/học sinh giảm xuống chỉ còn 1 giáo viên phụ trách cả lớp, không có nhiều giáo viên hỗ trợ kèm cặp như mầm non. Trẻ cần có kỹ năng giao tiếp hội thoại cơ bản để chủ động trao đổi với thầy cô, hòa nhập với bạn bè và thích nghi với môi trường học tập mới.

2. Trẻ RLPTK tại địa bàn nghiên cứu gặp khó khăn lớn nhất ở những biểu hiện nào trong giai đoạn duy trì hội thoại?

Khảo sát trên 22 trẻ tại Bảng 2.3 cho thấy trẻ gặp khó khăn lớn nhất ở các kỹ năng đòi hỏi xử lý ngữ nghĩa và tương tác qua lại: 100% trẻ không tự nói được điều gì mới ngoài nội dung có sẵn, 95,45% trẻ không biết thêm thông tin mới để làm rõ ý kiến, 68,18% trẻ không duy trì được đúng chủ đề cuộc trò chuyện, và 45,45% trẻ không có khả năng luân phiên (chờ đến lượt, thường ngắt lời hoặc nói xen vào).

3. Thực trạng kỹ năng kết thúc hội thoại của trẻ RLPTK được ghi nhận như thế nào?

Trẻ có xu hướng đơn phương chấm dứt cuộc hội thoại theo cách tiêu cực: 68,18% trẻ tự ý kết thúc bằng cử chỉ bỏ đi chỗ khác hoặc quay mặt đi hướng khác khi không còn hứng thú. Ngược lại, có tới 95,45% trẻ chưa đạt kỹ năng kết thúc hội thoại lịch sự bằng lời nói (như nói lời chào tạm biệt hoặc xin phép thôi).

4. Tần suất các buổi dạy can thiệp cá nhân của giáo viên mầm non biến động ra sao trong thời gian nghiên cứu?

Theo khảo sát ở Biểu đồ 2.6, tần suất can thiệp cá nhân riêng cho trẻ (thời lượng 25–35 phút/buổi) được duy trì từ 7–9 buổi/tháng trong giai đoạn từ tháng 9/2022 đến tháng 1/2023. Từ tháng 2/2023, giáo viên đã chủ động nâng tần suất lên 13 buổi/tháng, tháng 3 đạt 14 buổi/tháng và tháng 4/2023 đạt 16 buổi/tháng (tương đương từ 2 buổi/tuần lên 4 buổi/tuần) nhằm tăng cường rèn luyện kỹ năng cho trẻ trước khi tốt nghiệp mầm non.

5. Ba phương pháp can thiệp chính được tác giả đề xuất trong Chương 3 là gì?

Tác giả đề xuất kết hợp 3 phương pháp:

  1. Phương pháp Câu chuyện xã hội: Dùng các mẫu câu có cấu trúc kèm câu hỏi lửng để rèn luyện hiểu biết về bối cảnh và cảm xúc xã hội.
  2. Phương pháp Trò chơi hội thoại: Tổ chức các trò chơi tương tác nhằm phát triển khả năng lắng nghe tích cực và tuân thủ quy tắc luân phiên lượt lời.
  3. Phương pháp Kịch vải: Dùng nhân vật bảng vải tạo tình huống trực quan, giúp trẻ nhập vai, thực hành trải nghiệm hội thoại và rèn luyện kỹ năng chào tạm biệt khi kết thúc.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hạnh đã giải quyết một vấn đề cấp thiết trong giáo dục hòa nhập: phát triển kỹ năng giao tiếp hội thoại cho trẻ RLPTK 5–6 tuổi trước ngưỡng cửa chuyển cấp lên tiểu học. Dựa trên việc khảo cứu cơ sở lý luận và khảo sát thực trạng chi tiết trên 22 giáo viên và 22 trẻ tại 2 trường mầm non thuộc quận Cầu Giấy, đề tài đã chỉ ra rõ những rào cản cốt lõi của trẻ ở cả 3 giai đoạn hội thoại (khởi xướng, duy trì và kết thúc). Hệ thống 3 phương pháp can thiệp (Câu chuyện xã hội, Trò chơi hội thoại, Kịch vải) được xây dựng mang tính ứng dụng sư phạm rõ nét, cung cấp tài liệu tham khảo thiết thực cho giáo viên mầm non và các nhà thực hành giáo dục đặc biệt.