Tổng quan luận án
Công tác giáo dục thể chất (GDTC) và thể thao trường học (TTTH) đóng vai trò nền tảng trong chiến lược chăm sóc sức khỏe, nâng cao thể lực và tầm vóc cho thế hệ trẻ tại Việt Nam. Theo quy định tại Nghị định số 11/2015/NĐ-CP, Luật Thể dục, Thể thao năm 2006 và Đề án tổng thể phát triển giáo dục thể chất và thể thao trường học giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025 (Quyết định 1076/QĐ-TTg), môn học Thể dục nội khóa kết hợp cùng hoạt động thể thao ngoại khóa là phương thức bắt buộc nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. Đối với cấp tiểu học (học sinh từ 6 đến 10 tuổi), chương trình quy định từ 1 đến 2 tiết Thể dục chính khóa mỗi tuần. Tuy nhiên, thời lượng này chưa đủ để đáp ứng nhu cầu vận động tự nhiên của trẻ em.
Khảo sát thực tế tại tỉnh Thái Nguyên cho thấy chất lượng giảng dạy thể dục chính khóa còn đơn điệu, phương pháp nghèo nàn và lượng vận động còn thấp. Đồng thời, hoạt động thể thao ngoại khóa chưa được các nhà trường quan tâm đúng mức, phong trào tập luyện theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể (Quyết định số 53/2008/QĐ-BGD&ĐT) còn yếu và thiếu tính đồng bộ. Việc tổ chức các trò chơi vận động (TCVĐ) trong hoạt động ngoài giờ lên lớp phần lớn diễn ra tự phát, thiếu sự hướng dẫn sư phạm, cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên chuyên trách còn thiếu thốn. Mặt khác, dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển thể chất học sinh ở các địa phương khác, nhưng chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu việc lựa chọn và ứng dụng TCVĐ trong giờ ngoại khóa cho học sinh tiểu học (HSTH) trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Nhằm giải quyết khoảng trống thực tiễn và lý luận này, đề tài "Lựa chọn và ứng dụng trò chơi vận động trong giờ ngoại khóa cho học sinh tiểu học tỉnh Thái Nguyên" được tác giả Trần Thị Tú thực hiện dưới dạng luận án Tiến sĩ Giáo dục học (mã số: 9140101) tại Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh năm 2019, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lê Anh Thơ và TS. Trần Trung.
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác GDTC và năng lực thể chất của học sinh, đề tài tiến hành lựa chọn các TCVĐ phù hợp với đặc điểm tâm - sinh lý, sở thích của học sinh và điều kiện cơ sở vật chất của các trường tiểu học tại tỉnh Thái Nguyên; ứng dụng các TCVĐ này làm phương tiện tổ chức hoạt động ngoại khóa tại trường và định hướng cho học sinh tự chơi ở nhà, qua đó góp phần phát triển thể chất và nâng cao chất lượng công tác GDTC trên địa bàn tỉnh.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hiện thực hóa mục đích trên, đề tài xác định và giải quyết 2 nhiệm vụ cụ thể:
- Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất cho học sinh các trường tiểu học tỉnh Thái Nguyên.
- 1.1. Thực trạng dạy, học chính khóa và hoạt động ngoại khóa môn Thể dục.
- 1.2. Thực trạng đội ngũ giáo viên giảng dạy Thể dục bậc tiểu học.
- 1.3. Thực trạng việc sử dụng các trò chơi vận động ở các trường tiểu học.
- 1.4. Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học môn Thể dục.
- 1.5. Thực trạng kết quả học tập môn Thể dục và năng lực thể chất của học sinh tiểu học.
- Nhiệm vụ 2: Lựa chọn và ứng dụng trò chơi vận động trong giờ ngoại khóa cho học sinh tiểu học tỉnh Thái Nguyên.
- 2.1. Xác định cơ sở và nguyên tắc lựa chọn trò chơi vận động trong giờ ngoại khóa.
- 2.2. Lựa chọn hệ thống trò chơi vận động phù hợp với lứa tuổi và điều kiện thực tế của các trường.
- 2.3. Xác định hình thức, phương pháp tổ chức và tiến hành ứng dụng thực nghiệm các TCVĐ đã chọn trong giờ ngoại khóa; đánh giá hiệu quả phát triển thể chất của học sinh.
Giả thuyết khoa học
Hoạt động ngoại khóa của HSTH trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên còn nhiều hạn chế dẫn đến năng lực thể chất của học sinh còn yếu, chưa phát triển tốt. Nếu các trường tiểu học thường xuyên tổ chức tốt các hoạt động ngoại khóa, lấy TCVĐ mà học sinh ưa thích làm phương tiện chủ đạo sẽ có tác dụng phát triển thể chất cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động thể thao ngoại khóa, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác GDTC chung của nhà trường.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trò chơi vận động trong giờ ngoại khóa nhằm phát triển thể chất cho học sinh tiểu học tỉnh Thái Nguyên.
- Khách thể nghiên cứu: Học sinh tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5 (độ tuổi từ 6 đến 10/11 tuổi), cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên (GV) giảng dạy môn Thể dục và phụ huynh học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Các trường tiểu học đại diện cho các khu vực thành thị, nông thôn và miền núi thuộc tỉnh Thái Nguyên.
- Nội dung thực nghiệm: Đánh giá thực trạng từ lớp 1 đến lớp 5; tổ chức thực nghiệm sư phạm ứng dụng hệ thống TCVĐ đối với học sinh từ lớp 1 đến lớp 4 trong giờ ngoại khóa.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp đến hai mảng nội dung chính: phát triển thể chất học sinh thông qua GDTC trường học và lý luận - thực tiễn về trò chơi, trò chơi vận động.
1. Các nghiên cứu về giáo dục thể chất và phát triển thể chất học sinh
- Nghiên cứu hằng số sinh học và thể chất người Việt Nam: Công trình của Nguyễn Tấn Gi Trọng và cộng sự (1962 - 1975) đã chuẩn hóa tiêu chí hình thái và chức năng làm hằng số sinh học người Việt Nam. Giai đoạn 1979 - 1981, Phan Hồng Minh và cộng sự điều tra thể chất trên 6.876 học sinh từ 7 đến 17 tuổi, chỉ ra học sinh miền núi có ưu thế về sức bền, sức mạnh nhưng kém hơn về sức nhanh so với học sinh thành thị. Giai đoạn 1983 - 1984, Nguyễn Kim Minh và cộng sự công bố nghiên cứu năng lực thể chất lứa tuổi 5 - 18 tuổi. Giai đoạn 2001 - 2003, Viện Khoa học TDTT phối hợp các cơ sở đào tạo tiến hành điều tra quy mô lớn về thể chất người Việt Nam từ 6 đến 20 tuổi.
- Nghiên cứu GDTC và hoạt động ngoại khóa cấp tiểu học:
- Huỳnh Trọng Khải (2000): Nghiên cứu sự phát triển thể chất của nữ HSTH từ 7 đến 11 tuổi tại TP. Hồ Chí Minh trong điều kiện tập luyện ngoại khóa.
- Trần Đình Thuận (2005): Đánh giá thực trạng phát triển thể chất và ứng dụng thiết bị vận động đa năng, đồ chơi làm phương tiện GDTC tiểu học chuẩn quốc gia.
- Bùi Quang Hải (2008): Nghiên cứu quan sát dọc sự phát triển thể chất học sinh 6 - 10 tuổi tại một số tỉnh phía Bắc và xây dựng phương thức dự báo.
- Nguyễn Ngọc Việt (2011): Khảo sát biến đổi tầm vóc, thể lực dưới tác động của tập luyện nội - ngoại khóa ở học sinh 6 - 9 tuổi khu vực Bắc Trung Bộ.
- Nguyễn Duy Quyết (2012): Ứng dụng chương trình "Điền kinh cho trẻ em" của IAAF dưới dạng trò chơi tập thể cho học sinh 7 - 10 tuổi tại miền Bắc.
- Mai Thị Thu Hà (2014): Xây dựng 14 bài tập Thể dục Aerobic ngoại khóa cho học sinh tiểu học.
- Lê Văn Bé Hai (2015): Đánh giá tác động của hoạt động vận động giải trí đến thể chất học sinh nội thành TP. Hồ Chí Minh.
- Lê Đông Dương (2017): Lựa chọn 12 giải pháp thuộc 3 nhóm nhằm nâng cao chất lượng GDTC cho học sinh tiểu học tỉnh Thanh Hóa.
2. Các nghiên cứu về trò chơi và trò chơi vận động
- Nghiên cứu quốc tế:
- K. Gross quan niệm bản chất trò chơi là hoạt động luyện tập trước để thích ứng với đời sống.
- G. Freud và H. Spencer lý giải trò chơi theo thuyết năng lượng dư thừa và giải tỏa bản năng (tuy nhiên luận án chỉ ra hạn chế của thuyết này khi trẻ em ốm yếu hoặc cần phục hồi sức khỏe vẫn tham gia chơi).
- A.X. Vygotsky (Vưgôtxki) phân tích vai trò của trò chơi mô phỏng trong việc hình thành biểu tượng trừu tượng, phát triển trí tưởng tượng, rèn luyện phẩm chất ý chí và xã hội hóa trẻ em.
- A.S. Macarenco nhấn mạnh trò chơi phải đòi hỏi sự nỗ lực thể chất và tâm lý; Kunkel chỉ ra giá trị tái tạo cân bằng tâm lý của trò chơi đối với trẻ em.
- Nghiên cứu trong nước:
- Nguyễn Ánh Tuyết: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tâm lý học trò chơi trẻ em, phân loại và xác định vai trò của người lớn trong tổ chức trò chơi.
- Đặng Thành Hưng: Tiếp cận trò chơi dạy học như một kỹ thuật sư phạm hiện đại, phân tích mối quan hệ giữa công việc, sự chơi và hoạt động chơi.
- Lê Anh Thơ: Xây dựng cơ sở lý thuyết và quy trình sử dụng TCVĐ phát triển kỹ năng vận động cho trẻ em.
- Hà Thị Kim Linh (2012): Ứng dụng trò chơi dân gian nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học vùng Đông Bắc.
Khoảng trống nghiên cứu của luận án
Tổng quan tài liệu cho thấy các nghiên cứu trước đây đã chứng minh rõ vai trò của vận động giải trí, thể dục Aerobic, điền kinh hoặc đồ chơi đa năng đối với thể lực học sinh ở nhiều vùng địa lý khác nhau. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống việc tuyển chọn, phân nhóm kỹ năng và xây dựng quy trình ứng dụng TCVĐ (đặc biệt là TCVĐ dân gian) trong giờ ngoại khóa cho HSTH tại tỉnh Thái Nguyên – một địa bàn có đặc thù phân hóa giữa khu vực thành thị, nông thôn và miền núi. Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống thực tiễn và phương pháp luận này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Luận án vận dụng tổng hợp hệ thống lý thuyết về giáo dục học, tâm lý học lứa tuổi, sinh lý học vận động và lý luận - phương pháp giáo dục thể chất:
- Khái niệm và đặc điểm TCVĐ: TCVĐ là phương tiện và phương pháp của GDTC, cấu thành bởi hai yếu tố: vui chơi giải trí (thỏa mãn tinh thần) và giáo dục - giáo dưỡng thể chất (phát triển tố chất thể lực, rèn luyện kỹ năng vận động cơ bản như đi, chạy, nhảy, ném, leo trèo, luồn lách). TCVĐ có tính mục đích, tính thi đua cao, phản ánh các mối quan hệ xã hội và gắn liền với các bài đồng dao dân gian.
- Đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học: Tri giác mang tính trực quan cụ thể; chú ý không chủ định chiếm ưu thế; trí nhớ trực quan - hình tượng phát triển mạnh hơn trí nhớ từ ngữ - logic; tư duy cụ thể đang chuyển dần sang tư duy trừu tượng; nhu cầu vui chơi là đòi hỏi sinh học tự nhiên giúp giảm tải áp lực học tập văn hóa.
- Đặc điểm sinh lý vận động học sinh tiểu học:
- Hệ xương: Tốc độ phát triển nhanh, xương chi phát triển mạnh, các đốt sống có độ dẻo cao và đang hình thành đường cong sinh lý (cốt hóa hoàn toàn ở tuổi 20 - 25); chiều cao tăng trung bình 4 cm/năm, cân nặng tăng 2 kg/năm. Trẻ 6 tuổi (lớp 1) có chiều cao trung bình khoảng 106 cm (nam), 104 cm (nữ) và cân nặng khoảng 15,7 kg (nam), 15,1 kg (nữ).
- Hệ cơ: Chứa nhiều nước, ít chất đạm và mỡ; nhóm cơ lớn phát triển trước nhóm cơ nhỏ; lực cơ và giới hạn chịu đựng mang vác còn thấp (5 tuổi: 2,1 kg; 7 tuổi: 2,9 kg; 8 tuổi: 3,5 kg; 12 tuổi: 5,2 kg; lực cơ nam 7 tuổi đạt 4 - 7 kg, 12 tuổi đạt 11,3 - 13,9 kg).
- Hệ tuần hoàn - tim mạch: Nhịp tim nhanh (85 - 90 lần/phút); thể tích tống máu tâm thu ở lứa tuổi 7 - 8 tuổi đạt khoảng 23 ml (so với 35 - 38 ml ở tuổi 13 - 14 và 60 ml ở người trưởng thành); mạch máu tương đối rộng, huyết áp động mạch thấp.
- Hệ hô hấp: Đang chuyển từ thở bụng sang thở ngực; dung tích sống và dung tích phổi còn nhỏ (trẻ 8 tuổi đạt khoảng 1.699 $cm^3$ so với người lớn là 4.000 $cm^3$); tần số thở cao, thở nông, nhu cầu tiêu thụ oxy trên 1 kg thể trọng cao hơn người lớn.
- Hệ thần kinh: Quá trình hưng phấn chiếm ưu thế so với ức chế; phân hóa các loại hình thần kinh (mạnh thăng bằng, mạnh không thăng bằng, yếu).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng 7 phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Thu thập, phân tích các văn bản quy phạm pháp luật của Đảng, Chính phủ, Bộ GD&ĐT; sách chuyên khảo, giáo trình và công trình nghiên cứu về GDTC, tâm sinh lý và TCVĐ.
- Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm: Thiết kế phiếu hỏi và phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý, chuyên gia TDTT, giáo viên giảng dạy Thể dục tiểu học và phụ huynh học sinh nhằm đánh giá thực trạng và tuyển chọn hệ thống TCVĐ qua 2 vòng lấy ý kiến.
- Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ, quan sát tiến trình dạy học chính khóa, các buổi sinh hoạt ngoại khóa, thái độ và hành vi vận động của học sinh.
- Phương pháp kiểm tra sư phạm: Đánh giá năng lực thể chất học sinh thông qua các bài kiểm tra thể lực theo quy định tại Quyết định số 53/2008/QĐ-BGD&ĐT và kiểm tra kết quả học tập môn Thể dục.
- Phương pháp kiểm tra y sinh: Đánh giá chỉ số thể khối (BMI) theo chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và đánh giá chức năng hệ tim mạch thông qua các chỉ số công năng tim.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm song song đối chứng trên học sinh từ lớp 1 đến lớp 4; chia thành nhóm thực nghiệm (tập luyện TCVĐ trong giờ ngoại khóa theo chương trình tuyển chọn) và nhóm đối chứng (sinh hoạt ngoại khóa theo hình thức thông thường).
- Phương pháp toán học thống kê: Xử lý số liệu bằng các thuật toán thống kê mô tả (tính số trung bình $\bar{X}$, độ lệch chuẩn $S$, tỷ lệ phần trăm), kiểm định sự khác biệt giữa hai mẫu độc lập và ghép cặp ($t$-student), và kiểm định phi tham số Wilcoxon để phân tích mức độ đồng thuận của chuyên gia qua các vòng phỏng vấn.
| Nhóm phương pháp |
Công cụ / Kỹ thuật cụ thể |
Mục đích sử dụng trong luận án |
| Thu thập & Đánh giá thực trạng |
Phân tích tài liệu, Phiếu phỏng vấn, Quan sát sư phạm |
Khảo sát chương trình, đội ngũ GV, cơ sở vật chất, thực trạng sử dụng TCVĐ và kết quả học tập môn Thể dục |
| Đánh giá hình thái & Thể chất |
Nhân trắc học, Test thể lực (QĐ 53/2008/QĐ-BGD&ĐT) |
Đo chiều cao, cân nặng, BMI theo WHO; kiểm tra sức nhanh, sức mạnh, sức bền, độ khéo léo |
| Đánh giá chức năng y sinh |
Đo nhịp tim, Huyết áp, Chỉ số công năng tim |
Kiểm tra phản ứng tim mạch và khả năng thích ứng với lượng vận động |
| Thực nghiệm sư phạm |
Thiết kế nhóm Thực nghiệm - Đối chứng (Lớp 1 - 4) |
Ứng dụng 30 TCVĐ đã tuyển chọn vào giờ ngoại khóa và so sánh hiệu quả |
| Toán học thống kê |
Kiểm định Wilcoxon, $t$-test, phần mềm thống kê |
Kiểm tra độ tin cậy của chuyên gia qua 2 vòng và xác định ý nghĩa thống kê của mức độ tăng trưởng thể lực |
Nội dung chính theo từng chương
Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết, mục đích, 2 nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu, giả thuyết khoa học cùng ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài.
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương này tập trung hệ thống hóa:
- Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC và thể thao trường học qua các văn bản: Nghị định 11/2015/NĐ-CP, Luật TDTT 2006, Đề án 641 (Chương trình III), Quyết định 14/2001/QĐ-BGD&ĐT, Chỉ thị 17 CT/TW (2002), Quyết định 53/2008/QĐ-BGD&ĐT, Quyết định 72/2008/QĐ-BGD&ĐT, Quyết định 2198/QĐ-TTg (2010), Nghị quyết 08-NQ/TW (2011) và Quyết định 1076/QĐ-TTg (2016).
- Mục đích, nhiệm vụ giáo dưỡng - giáo dục thể chất, tăng cường sức khỏe và giáo dục đạo đức, thẩm mỹ cho HSTH.
- Khái niệm, vị trí của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (GDNGLL) và hoạt động ngoại khóa môn Thể dục.
- Bản chất, phân loại (theo động tác, tố chất thể lực, lượng vận động tĩnh/động, hình thức tổ chức có chia đội/không chia đội) và đặc điểm của TCVĐ đối với học sinh tiểu học.
- Đặc điểm tâm lý và giải phẫu - sinh lý học sinh tiểu học (hệ xương, hệ cơ, hệ tim mạch, hệ hô hấp, hệ thần kinh).
- Tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về thể chất học sinh và trò chơi vận động.
Chương 2: Phương pháp và tổ chức nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức và phương pháp nghiên cứu:
- Xây dựng bảng chuẩn đánh giá BMI theo WHO (Bảng 2.1) và tiêu chuẩn đánh giá chỉ số công năng tim (Bảng 2.2).
- Quy mô mẫu và thiết kế thực nghiệm sư phạm (Bảng 2.3): phân bổ học sinh lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4 thành các nhóm thực nghiệm và đối chứng tương đương về số lượng và trình độ ban đầu.
- Quy trình tổ chức khảo sát thực trạng trên diện rộng tại các trường tiểu học thuộc tỉnh Thái Nguyên.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
3.1. Đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất ở các trường tiểu học của tỉnh Thái Nguyên
Kết quả điều tra thực trạng được tổng hợp qua các chỉ tiêu cụ thể:
- Dạy học chính khóa và hoạt động ngoại khóa: 100% các trường thực hiện chương trình chính khóa theo quy định (1 tiết/tuần cho lớp 1, 2 tiết/tuần cho lớp 2 - 5) nhưng nội dung còn đơn điệu. Hoạt động ngoại khóa TDTT còn nghèo nàn, chưa duy trì thường xuyên, tỷ lệ học sinh tham gia tự giác còn thấp.
- Đội ngũ giáo viên: Tỷ lệ giáo viên chuyên trách Thể dục còn thiếu, nhiều trường giáo viên chủ nhiệm phải kiêm nhiệm; trình độ đào tạo chuẩn và trên chuẩn có sự chênh lệch giữa các vùng miền.
- Sử dụng TCVĐ: Giáo viên đều nhận thức được mục đích và tác dụng của TCVĐ nhưng hệ thống trò chơi sử dụng lặp lại, thiếu phong phú; thời lượng dành cho TCVĐ trong tiết học còn ít; giáo viên gặp nhiều khó khăn về sân bãi, tài liệu hướng dẫn và phương pháp điều khiển lượng vận động.
- Cơ sở vật chất: Sân bãi, dụng cụ tập luyện tại đa số các trường tiểu học tỉnh Thái Nguyên còn thiếu thốn, chưa có nhà tập đa năng, diện tích sân chơi bị hạn chế, đồ dùng tập luyện TDTT đơn sơ.
- Năng lực thể chất và kết quả học tập của học sinh: Đánh giá thể lực học sinh từ lớp 1 đến lớp 5 theo Quyết định 53/2008/QĐ-BGD&ĐT cho thấy tỷ lệ học sinh xếp loại Thể lực Tốt và Đạt còn thấp, tỷ lệ Chưa đạt còn chiếm tỷ lệ đáng kể; kết quả học tập môn Thể dục chủ yếu dừng ở mức Hoàn thành, tỷ lệ Hoàn thành tốt chưa cao.
3.2. Lựa chọn và ứng dụng trò chơi vận động trong giờ ngoại khóa cho học sinh tiểu học tỉnh Thái Nguyên
- Tuyển chọn hệ thống TCVĐ: Dựa trên cơ sở lý luận, đặc điểm tâm sinh lý và nguyên tắc sư phạm, tác giả xây dựng danh mục ban đầu gồm nhiều TCVĐ. Qua 2 vòng phỏng vấn chuyên gia, cán bộ quản lý và giáo viên Thể dục, sử dụng kiểm định chỉ số Wilcoxon (Bảng 3.31), đề tài đã lựa chọn được 30 TCVĐ đạt độ đồng thuận cao ($p < 0,05$), phân chia thành 05 nhóm rèn luyện kỹ năng:
- Nhóm 1: Trò chơi rèn luyện kỹ năng chạy và phát triển sức nhanh.
- Nhóm 2: Trò chơi rèn luyện kỹ năng nhảy và phát triển sức mạnh tốc độ (bật nhảy).
- Nhóm 3: Trò chơi rèn luyện kỹ năng ném, bắt và phối hợp vận động tay - mắt.
- Nhóm 4: Trò chơi rèn luyện kỹ năng khéo léo, luồn lách, thăng bằng và định hướng không gian.
- Nhóm 5: Trò chơi rèn luyện tính tập thể, phối hợp đồng đội và phát triển sức bền chung.
- Xác định hình thức và phương pháp sử dụng: Luận án xây dựng kế hoạch phân phối 30 TCVĐ vào các buổi ngoại khóa theo tuần/tháng cho từng khối lớp (từ lớp 1 đến lớp 4), quy định cụ thể về thời gian chơi, số lần lặp lại, quãng nghỉ và phương pháp kiểm soát lượng vận động phù hợp sinh lý lứa tuổi.
- Kết quả thực nghiệm sư phạm:
- Thời điểm trước thực nghiệm: So sánh các chỉ số thể chất giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng ở cả 4 khối lớp (lớp 1, 2, 3, 4) cho thấy sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$), đảm bảo tính đồng đều trước khi tác động.
- Thời điểm sau thực nghiệm: Các chỉ tiêu về hình thái (BMI), chức năng tim mạch (chỉ số công năng tim) và các tố chất thể lực (chạy nhanh, bật xa tại chỗ, chạy con thoi, khéo léo, sức bền) của nhóm thực nghiệm ở cả học sinh nam và nữ các lớp 1, 2, 3, 4 đều có mức tăng trưởng vượt trội so với nhóm đối chứng với mức sai khác có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$ và $p < 0,01$).
- Xếp loại thể lực và kết quả học tập: Tỷ lệ học sinh đạt loại Tốt về thể lực theo Quyết định 53/2008/QĐ-BGD&ĐT ở nhóm thực nghiệm tăng rõ rệt, tỷ lệ Chưa đạt giảm mạnh so với nhóm đối chứng. Tỷ lệ học sinh đạt mức Hoàn thành tốt môn Thể dục ở nhóm thực nghiệm cao hơn hẳn nhóm đối chứng.
- Hứng thú và phản hồi: Khảo sát học sinh, giáo viên và phụ huynh cho thấy nhóm thực nghiệm thể hiện mức độ hứng thú, tích cực vận động cao khi tham gia các TCVĐ trong giờ ngoại khóa.
3.3. Bàn luận kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 2
Tác giả tiến hành bàn luận, so sánh các kết quả đạt được với các công trình nghiên cứu trước đây (như nghiên cứu của Nguyễn Duy Quyết, Mai Thị Thu Hà, Lê Văn Bé Hai, Lê Đông Dương), luận giải cơ chế tác động sinh học và tâm lý học của 30 TCVĐ đã tuyển chọn đối với sự phát triển thể chất toàn diện của học sinh tiểu học.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về vai trò, vị trí của hoạt động thể thao ngoại khóa và phương tiện trò chơi vận động đối với quá trình phát triển thể chất của học sinh tiểu học trong hệ thống GDTC trường học tại Việt Nam.
- Xác định rõ mối quan hệ tương tác giữa đặc điểm giải phẫu - sinh lý vận động, tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học với các nguyên tắc, tiêu chuẩn lựa chọn và định lượng vận động trong tổ chức TCVĐ ngoài giờ lên lớp.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh toàn diện, khách quan về thực trạng công tác GDTC, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, việc sử dụng TCVĐ cũng như trình độ thể lực của học sinh tiểu học tại tỉnh Thái Nguyên.
- Tuyển chọn được hệ thống 30 trò chơi vận động khoa học, phù hợp với đặc thù tâm sinh lý học sinh từ lớp 1 đến lớp 4 và điều kiện thực tế sân bãi của các trường tiểu học tỉnh Thái Nguyên.
- Phân chia 30 TCVĐ thành 05 nhóm rèn luyện kỹ năng và thiết lập quy trình, phương pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa có hướng dẫn, giúp học sinh có thể vừa tham gia tại trường, vừa tự tổ chức vui chơi an toàn tại gia đình.
- Chứng minh bằng thực nghiệm sư phạm tính hiệu quả vượt trội của hệ thống TCVĐ trong việc nâng cao các chỉ số hình thái, chức năng tim mạch, tố chất thể lực, xếp loại thể lực theo tiêu chuẩn của Bộ GD&ĐT, đồng thời nâng cao kết quả học tập môn Thể dục và tạo hứng thú rèn luyện thân thể cho học sinh.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Các cấp quản lý giáo dục (Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT tỉnh Thái Nguyên) cần đưa hệ thống TCVĐ đã tuyển chọn vào hướng dẫn tổ chức hoạt động thể thao ngoại khóa chính thức tại các trường tiểu học.
- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, sân chơi, bãi tập và đồ dùng TDTT; mở các lớp bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Thể dục về phương pháp tổ chức và điều khiển lượng vận động trong TCVĐ.
- Nhà trường và giáo viên cần phối hợp chặt chẽ với gia đình để hướng dẫn, khuyến khích học sinh tự giác duy trì tập luyện các TCVĐ dân gian và hiện đại trong thời gian rảnh rỗi tại nhà.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Nghiên cứu thực nghiệm sư phạm mới chỉ tập trung triển khai trên các khối lớp 1, 2, 3 và 4 tại một số trường tiểu học đại diện của tỉnh Thái Nguyên; chưa tổ chức thực nghiệm chuyên biệt trên quy mô toàn bộ học sinh lớp 5 do đặc thù thời gian cuối cấp.
- Điều kiện cơ sở vật chất, sân bãi ở một số điểm trường vùng sâu, vùng xa thuộc tỉnh Thái Nguyên còn khó khăn, ảnh hưởng nhất định đến việc triển khai đồng bộ một số trò chơi đòi hỏi không gian rộng.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu và ứng dụng hệ thống TCVĐ cho học sinh khối lớp 5 và cấp Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh.
- Nghiên cứu xây dựng phần mềm hoặc cẩm nang đa phương tiện hướng dẫn chi tiết luật chơi, kỹ thuật và bài đồng dao kèm theo của các TCVĐ dân gian để phổ biến rộng rãi cho giáo viên, phụ huynh và học sinh tự tập luyện.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực sau:
- Cán bộ quản lý giáo dục và thể thao: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng phục vụ công tác quy hoạch, chỉ đạo chuyên môn, xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng GDTC và hoạt động ngoại khóa tại các trường tiểu học.
- Giáo viên giảng dạy Thể dục tiểu học: Tham khảo trực tiếp danh mục 30 TCVĐ thuộc 5 nhóm rèn luyện kỹ năng, giáo án tổ chức ngoại khóa và phương pháp phân bổ lượng vận động phù hợp lứa tuổi.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Giáo dục học và GDTC: Tham khảo khung lý thuyết, quy trình thiết kế thực nghiệm sư phạm, hệ thống test kiểm tra thể lực kết hợp chỉ số y sinh (BMI, công năng tim) và kỹ thuật xử lý thống kê (kiểm định Wilcoxon, $t$-test).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đã lựa chọn được bao nhiêu trò chơi vận động và phân chia thành những nhóm kỹ năng nào?
Luận án đã tuyển chọn được 30 trò chơi vận động thông qua 2 vòng lấy ý kiến chuyên gia và kiểm định Wilcoxon ($p < 0,05$). Hệ thống này được phân chia thành 05 nhóm rèn luyện kỹ năng: (1) Nhóm rèn luyện kỹ năng chạy và sức nhanh; (2) Nhóm rèn luyện kỹ năng nhảy và bật nhảy; (3) Nhóm rèn luyện kỹ năng ném, bắt và phối hợp tay - mắt; (4) Nhóm rèn luyện sự khéo léo, luồn lách, thăng bằng; (5) Nhóm rèn luyện tính tập thể, phối hợp đồng đội và sức bền chung.
2. Tác giả sử dụng những tiêu chuẩn nào để đánh giá hình thái, chức năng y sinh và thể lực của học sinh?
Tác giả sử dụng phối hợp:
- Đánh giá chỉ số thể khối (BMI) theo chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) (Bảng 2.1).
- Đánh giá chức năng tuần hoàn qua các chỉ số công năng tim (Bảng 2.2).
- Đánh giá năng lực thể chất và xếp loại thể lực theo các test quy định tại Quyết định số 53/2008/QĐ-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
3. Thực trạng công tác GDTC tại các trường tiểu học tỉnh Thái Nguyên trước nghiên cứu bộc lộ những điểm yếu nào?
Trước nghiên cứu, các trường thực hiện đủ số tiết chính khóa nhưng chất lượng giờ dạy còn đơn điệu, lượng vận động thấp. Hoạt động ngoại khóa TDTT phát triển yếu, phong trào tự rèn luyện thân thể chưa đồng bộ. Việc dùng TCVĐ phần lớn mang tính ngẫu nhiên, tự phát, thiếu tài liệu hướng dẫn. Cơ sở vật chất, sân bãi còn chật hẹp, thiếu nhà tập đa năng và đội ngũ giáo viên chuyên trách Thể dục còn thiếu ở nhiều trường.
4. Phương pháp toán học thống kê nào được sử dụng để kiểm định sự đồng thuận chuyên gia trong quá trình tuyển chọn TCVĐ?
Tác giả sử dụng kiểm định phi tham số Wilcoxon (Bảng 3.31) qua 2 lần phỏng vấn chuyên gia và giáo viên Thể dục để đánh giá mức độ tin cậy và sự đồng thuận thống kê đối với danh mục các trò chơi vận động được đề xuất.
5. Kết quả thực nghiệm sư phạm chứng minh hiệu quả của các TCVĐ đã chọn như thế nào?
Sau thời gian thực nghiệm trên học sinh từ lớp 1 đến lớp 4, nhóm thực nghiệm có sự tăng trưởng vượt trội về các chỉ số hình thái (BMI), chỉ số công năng tim và thành tích các bài test thể lực so với nhóm đối chứng ($p < 0,05$ và $p < 0,01$). Đồng thời, tỷ lệ học sinh xếp loại Thể lực Tốt (theo QĐ 53) và tỷ lệ Đạt kết quả học tập Hoàn thành tốt môn Thể dục ở nhóm thực nghiệm đều tăng rõ rệt, đi kèm mức độ hứng thú vận động cao.
Kết luận
Luận án của tác giả Trần Thị Tú đã giải quyết trọn vẹn 2 nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, phản ánh chính xác thực trạng công tác GDTC và năng lực thể chất của học sinh tiểu học tại tỉnh Thái Nguyên. Công trình đã tuyển chọn thành công 30 trò chơi vận động thuộc 5 nhóm rèn luyện kỹ năng, xác định hình thức và phương pháp tổ chức giờ ngoại khóa khoa học, phù hợp đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi 6 - 10 tuổi. Kết quả thực nghiệm sư phạm khẳng định việc ứng dụng hệ thống TCVĐ trong hoạt động ngoại khóa có tác dụng rõ rệt trong việc cải thiện chức năng sinh lý, nâng cao thể lực toàn diện và kết quả học tập môn Thể dục cho học sinh tiểu học, đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn giá trị cho ngành giáo dục địa phương.