chương I]. Theo quan điểm của chúng tôi: “Hoạt động GDNGLL là hoạt động có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức được thực hiện ngoài giờ học các môn học trên lớp, là sự tiếp nối, bổ sung các hoạt động trên lớp và thống nhất hữu cơ với hoạt động dạy học, là con đường gắn lý thuyết với thực hành, góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của học sinh”. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là một bộ phận quan trọng không thể thiếu được trong toàn bộ quá trình giáo dục của các trường phổ thông nói chung, của trường tiểu học nói riêng. Nội dung của hoạt động GDNGLL bao gồm: Phản ánh cuộc sống học tập, sinh hoạt và rèn luyện của HS tiểu học ở nhà trường, gia đình và trong cộng đồng; những thông tin cập nhật trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội phù hợp với nhận thức của học sinh tiểu học; tạo cơ hội để học sinh tiểu học phát triển các khả năng của mình trong hoạt động GDNGLL.
Những nội dung của hoạt động GDNGLL trong trường tiểu học được thể hiện ở các loại hình hoạt động sau: Hoạt động văn hóa - nghệ thuật (VH-NT); hoạt động 13 vui chơi giải trí, thể dục thể thao; hoạt động thực hành khoa học- kĩ thuật; hoạt động lao động công ích; hoạt động của Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh; các hoạt động mang tính xã hội. Trong hoạt động vui chơi giải trí, thể dục thể thao: Hướng dẫn học sinh Tổ chức các trò chơi vận động dân gian; Đồng diễn thể dục nhịp điệu, vòng gậy…; các trận thi đấu thể thao: cầu lông, đá cầu, cờ vua, bóng đá,… Trong quá trình giáo dục học sinh có xu hướng vượt ra khỏi phạm vi tri thức do chương trình quy định, bởi vì tri thức của hoạt động nội khóa không thỏa mãn nhu cầu nhận thức của học sinh. Do đó hoạt động ngoại khóa minh họa thêm cho bài học nhằm tạo điều kiện cho học sinh có thể mở rộng, đào sâu tri thức phát triển hứng thú và năng lực riêng cho mình. Hoạt động ngoại khóa được tổ chức dưới nhiều hình thức để học sinh liên hệ với tập thể và cá nhân mình trong học tập, rèn luyện tác phong, lối sống và ý thức chấp hành kỷ luật.
Hoạt động ngoại khóa là một trong những hình thức của hoạt động GDNGLL. Hoạt động ngoại khóa có thể diễn ra trong lớp học, trong môi trường nhà trường, thiên nhiên rộng lớn. Hoạt động ngoại khóa là tùy điều kiện của từng trường, từng nơi, không thực hiện thống nhất trong toàn quốc. Việc thực hiện ngoại khóa được coi như một tiêu chí để đánh giá quá trình rèn luyện nhân cách cho học sinh [25], [26].
Hoạt động ngoại khóa môn Thể dục. Tập luyện ngoại khoá là hình thức tập luyện tự nguyện nhằm củng cố sức khoẻ, duy trì và nâng cao khả năng hoạt động thể lực, rèn luyện cơ thể và chữa bệnh, giáo dục các tố chất thể lực và ý chí, tiếp thu các kỹ năng, kỹ xảo vận động. Giờ học ngoại khoá nhằm củng cố và hoàn thiện các bài học chính khoá và được tiến hành vào giờ tự học của học sinh hay dưới sự hướng dẫn của giáo viên TDTT. Ngoài ra còn các hoạt động thể thao quần chúng ngoài giờ học bao gồm: Luyện tập trong các Câu lạc bộ, các giải thi đấu trong và ngoài trường được tổ chức hàng năm, các bài tập thể dục vệ sinh chống mệt mỏi hàng ngày, cũng như giờ tự luyện tập của học sinh, phong trào tự tập luyện rèn luyện thân thể.
Hoạt động thể thao ngoại khoá 14 với chức năng là động viên lôi kéo nhiều người tham gia tập luyện các nội dung yêu thích, góp phần nâng cao sức khoẻ phục vụ học tập và sinh hoạt. Các buổi tập ngoại khoá có cấu trúc đơn giản và nội dung hẹp hơn giờ chính khoá, đòi hỏi ý thức tự tập luyện, tinh thần độc lập sáng tạo cao. Nhiệm vụ cụ thể và nội dung buổi tập ngoại khoá phụ thuộc vào hứng thú và sở thích cá nhân, của một bộ phận học sinh có nhu cầu và ham thích tập luyện TDTT trong thời gian nhàn rỗi để qua vận động tập luyện giúp nâng cao chất lượng giờ nội khóa góp phần phát triển năng lực, thể chất toàn diện và nâng cao thành tích thể thao cho học sinh. Như buổi tập nội khoá, cấu trúc buổi tập ngoại khoá phải đảm bảo cơ thể dần dần bước vào hoạt động tạo điều kiện tốt nhất để thực hiện phần cơ bản và phần kết thúc của buổi tập.
Do nội dung buổi tập ngoại khoá có khác biệt nên cách tổ chức tập luyện có đặc trưng riêng. Hoạt động ngoại khoá với chức năng động viên hấp dẫn nhiều người hơn tham gia tập luyện các nội dung yêu thích, rèn luyện thân thể, tham gia cổ vũ phong trào tự tập luyện rèn luyện thân thể [53], [64]. Khái quát về trò chơi và trò chơi vận động. Khái quát về trò chơi 1.
Khái niệm Theo từ điển tiếng Việt, “trò” là một hình thức mua vui, được bày ra trước mắt mọi người; “chơi” là một từ chung để chỉ những hoạt động lúc nhàn rỗi, ngoài giờ làm việc, mục đích là để giải trí. Từ đó “trò chơi” được hiểu là những hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu sống của con người, trước hết là giải trí [47]. Theo quan điểm Giáo dục học, trò chơi là phương tiện phát triển nhân cách, là hình thức tổ chức cuộc sống. Đối với trẻ em trò chơi là hoạt động giúp trẻ tái tạo các hoạt động của người lớn và các quan hệ giữa họ, định hướng nhận thức đồ vật và nhận thức xã hội.
Trong trò chơi, nhu cầu của trẻ em về thể lực, trí tuệ, đạo đức và ý trí được hình thành, thoả mãn, thể hiện và phát triển. Trẻ em được chơi nên phát triển, được phát triển, chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ [61]. Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết xem trò chơi của trẻ nhỏ như là dạng hoạt động phản ánh mối quan hệ xã hội, mối quan hệ giữa con người - tự nhiên, là hoạt động mà động cơ chơi nằm trong quá trình chứ không nằm trong kết quả của hoạt động [70]. 15 Tác giả Đặng Thành Hưng khai thác định nghĩa “Chơi” trong mối quan hệ giữa sự chơi, hoạt động chơi và trò chơi.
Theo tác giả thì “Chơi là kiểu hành vi hoặc hoạt động tự nhiên, tự nguyện có động cơ thúc đẩy là những yếu tố bên trong quá trình chơi mà chủ thể không nhất thiết theo đuổi mục tiêu và lợi ích thực dụng một cách tự giác trong quá trình đó. Quá trình chơi có sức hút tự thân và các yếu tố tâm lý của con người trong khi chơi nói chung mang tính chất vui đùa, ngẫu hứng, tự do, cởi mở, thư dãn có khuynh hướng thể nghiệm tâm trạng hoặc tạo ra sự khuây khỏa cho mình” [28;tr384]. Trên cơ sở đó tác giả quan niệm “Trò chơi là tập hợp các yếu tố chơi có hệ thống và có tổ chức vì thế luật hay quy tắc chính là phương tiện tổ chức tập hợp đó” [28;tr392]. Khai thác chức năng đặc thù của trò chơi như là phương tiện rèn luyện những phẩm chất cơ bản về thể lực, về trí tuệ và tính kỉ luật, đạo đức, luân lí cho mọi người theo giá trị thẩm mĩ, tác giả Phạm Duy Đức cho rằng: Trò chơi và sự chơi giúp mọi người rèn luyện ý chí nỗ lực một cách thông minh, tự chủ, kiên trì, biết làm chủ những xúc động một cách có văn hóa, lịch sự trước các tình huống thắng thua, thể hiện vẻ đẹp nhân cách người [19].
Trên cơ sở kế thừa những quan điểm, những định nghĩa khác nhau về trò chơi chúng tôi hiểu: Trò chơi là một kiểu chơi, một dạng hoạt động giải trí, là một hình thức phản ánh các mặt lao động, sản xuất, sinh hoạt văn hoá, được thực hiện theo quy ước nhằm thoả mãn những nhu cầu về thể chất và tinh thần của con người. Các nhà tâm lí học hiện đại không phủ nhận yếu tố sinh học của trò chơi nhưng lại khẳng định rằng trò chơi của trẻ em mang bản chất xã hội. Bản chất xã hội được thể hiện ở nguồn gốc xuất hiện của trò chơi (cả về phương diện lịch sử xã hội lẫn phương diện lịch sử phát triển cá nhân), về chủ đề chơi, nội dung chơi và hình thức biểu hiện. Trong lịch sử mỗi dân tộc đều có một kho trò chơi được chọn lọc, tích lũy và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Trong đó trẻ em một mặt được giải trí, mặt khác lại được hiểu thêm thế giới xung quanh và hoàn thiện những khả năng của mình, cùng với việc làm quen với phương thức hoạt động của người lớn. Mỗi giai đoạn xã hội đều có ảnh hưởng đến nội dung của trò chơi bằng con đường tự phát hoặc tự giác. Hơn thế nữa trò chơi còn được sử dụng như một phương tiện giáo dục, phương tiện truyền đạt những kinh nghiệm từ các thế hệ nối tiếp nhau. 16 Bản chất xã hội của hoạt động chơi cũng được biểu hiện bởi điều kiện mà mỗi xã hội tạo ra cho trẻ chơi, nhưng không phải xã hội nào cũng tạo ra được những điều kiện đó.
Trong một số giai đoạn phát triển của xã hội, trẻ em đã tham gia rất sớm vào công việc nặng nhọc, đã làm tước mất tuổi thơ và người bạn đồng hành - đó là trò chơi của trẻ em [25], [29], [32]. Phân loại trò chơi: Trò chơi sáng tạo: Là những trò chơi theo chủ đề, chủ yếu là phát triển trí lực. Trò chơi hoạt động: Tác động toàn diện cơ thể. Trò chơi thể thao: Là các môn thi đấu trong chương trình thế vận hội [33].
Ở đây chúng ta tập trung tìm hiểu và đi sâu vào loại 2 là trò chơi hoạt động hay đó chính là TCVĐ. Ý nghĩa giáo dục của trò chơi đối với trẻ em Trò chơi là phương tiện rất hữu hiệu để giáo dục toàn diện trẻ em. Chúng tác động đến sự phát triển thể chất cũng như trí tuệ, hoàn thiện các quá trình tri giác, chú ý, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng sáng tạo, hình thành ý chí và tính cách, dạy cho các em hoạt động tập thể, tạo điều kiện thống nhất những nỗ lực chung để giải quyết một nhiệm vụ nào đó, giáo dục cảm giác hữu nghị và tình đồng đội. Các trò chơi giúp các em “nhận thức sâu sắc hơn tư tưởng và cảm giác của mình; suy nghĩ rõ hơn, cảm xúc” [36].
Các trò chơi cho trẻ kích thích các em biểu hiện tính sáng kiến và tính độc lập.