Chương 1: Lý luận về hành vi thích ứng của trẻ rối lo n phổ tự kỷ Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu về hành vi thích ứng của trẻ rối lo n phổ tự kỷ t i thành phố Đà N ng Chương 4: Thực nghiệm chương trình tích hợp tăng cường hành vi thích ứng cho trẻ rối lo n phổ tự kỷ. 4 Ch ng 1 Lụ LU N V HÀNH VI THệCH NG C A TR R I LO N PHỔ T K 1. T ng quan v hành vi thích ng c a tr r i lo n ph tự k 1. Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài a.
Nghiên cứu về thực trạng hành vi thích ứng Kỹ năng thích ứng có thể là một yếu tố dự báo tốt hơn về kết quả hành vi thích ứng tích cực so với chỉ số IQ và ngôn ngữ (Farley và cộng sự, 2009) Nghiên cứu của Nandita Golya và Laura Lee McIntyre cho thấy chỉ có mức độ nghiêm tr ng của triệu chứng tự kỷ chiếm tỷ lệ chênh lệch đáng kể trong hành vi thích ứng, với việc xã hội hóa b ảnh hưởng nhiều nhất. Mặc dù hơn một nửa số người chăm sóc đã báo cáo các triệu chứng trầm cảm tăng cao, trầm cảm của người chăm sóc không liên quan đến hành vi thích ứng [25] Trong nghiên cứu về thực tr ng hành vi thích ứng của nhóm trẻ nhỏ, tác giả Darren Hedley cùng cộng sự sử dụng thang đo Vineland II đo trên 158 trẻ nhỏ được chẩn đoán RLPTK t i một bệnh viện Nhi của Mỹ, kết quả cho thấy điểm số hành vi thích nghi lĩnh vực vận động lớn hơn kỹ năng sống hàng ngày, lớn hơn kỹ năng xã hội hoá và lớn hơn lĩnh vực giao tiếp [23] Một nghiên cứu khác theo chiều d c với 105 trẻ RLPTK, các tác giả Farmer, Swineford và Swedo đánh giá 4 lần trên trẻ có độ tuổi từ 4 – 7. Kết quả cho thấy mô hình phù hợp nhất bao gồm hai lo i quỹ đ o theo thang điểm tổng hợp Hành vi thích ứng của Thang đo hành vi thích ứng Vineland II, một quỹ đ o thấp và giảm (73% mẫu) và một quỹ đ o vừa phải và ổn đ nh (27%) [26] Như vậy, trong hầu hết các nghiên cứu đều có kết quả hành vi thích ứng của trẻ RLPTK ở mức trung bình và thấp, có sự liên quan đến độ tuổi (trẻ càng lớn lên thì điểm số hành vi thích ứng càng giảm) và triệu chứng tự kỷ. Hầu hết số trẻ RLPT gặp ít khó khăn nhất ở lĩnh vực vận động và gặp khó khăn nhiều nhất ở lĩnh vực ngôn ngữ và giao tiếp.
Nghiên cứu về các biện pháp nâng cao hành vi thích ứng Kỹ năng hành vi thích ứng được phát triển tốt là rất cần thiết để ho t động độc lập. Hành vi thích ứng mô tả hiệu suất điển hình của các ho t động hàng ngày và thể hiện khả năng chuyển tiềm năng nhận thức thành các kỹ năng trong thế giới thực (Sparrow & Cicchetti, 1984 ). Các hành vi thích ứng bao gồm các kỹ năng hàng ngày được khởi xướng độc lập, như giao tiếp hiệu quả với người khác, tham gia các ho t động cộng đồng và phát triển các mối quan hệ có ý nghĩa ( Klin et al. [27] Chương trình “Adaptive Skills Training and Quality of Life of Young Adults with Autism” cho 67 trẻ RLPTK độ tuổi từ 14 – 21 tuổi, chương trình tập trung vào việc giúp 5 đỡ người tham gia có được sự độc lập trong các lĩnh vực chính của cuộc sống hàng ngày.
Mô hình điều tr kết hợp hướng dẫn kỹ năng trực tiếp (thông qua việc sử dụng chương trình giảng d y kỹ năng thích ứng) với kinh nghiệm các ho t động h c tập và sự tham gia của phụ huynh, tất cả trong khuôn khổ dựa trên mối quan hệ trong một nỗ lực để thúc đẩy kết quả cuộc sống tốt hơn. [30] Drahota et al. làm việc với các gia đình trong nhà của những đứa trẻ được chẩn đoán mắc chứng rối lo n Asperger ở độ tuổi 7-11 tuổi. Tr ng tâm của sự can thiệp là làm nổi bật tính độc lập và trách nhiệm của trẻ em.
Nói cách khác, h đã giúp cha mẹ và những đứa trẻ nói về các quy tắc xã hội và những gì những đứa trẻ khác ở độ tuổi của chúng đang làm xung quanh nhà. H tập trung vào sự cần thiết phải có trách nhiệm như một phần của gia đình, và h đưa ra những lời kh ng đ nh và tuyên bố tích cực về kỳ v ng rằng những đứa trẻ có thể thành công. H cũng hướng dẫn các bậc cha mẹ các suy nghĩ tích cực về mối quan hệ của người Hồi giáo (điều chắc chắn có thể đóng vai trò củng cố) cho từng bước nhỏ cố gắng (không nhất thiết chỉ những người đ t được). Sau đó, h làm việc với trẻ em để điều chỉnh l i cách trẻ tự nói ra hoặc thể hiện suy nghĩ của mình.
Cuối cùng, h tập trung vào cha mẹ để huấn luyện h hỗ trợ sự độc lập của trẻ thông qua phản hồi tích cực(củng cố)và truyền đ t kỳ v ng rằng đứa trẻ có khả năng hoàn thành việc nhà. Tổng quan các nghiên cứu ở Việt Nam a. Nghiên cứu về thực trạng hành vi thích ứng Trong đề tài “Nghiên cứu về thực tr ng hành vi thích nghi của trẻ 3 – 5 tuổi”,tác giả Giản Th Xuyến nghiên cứu bằng phương pháp quan sát và sử dụng trắc nghiệm Vineland II, đã nghiên cứu hành vi thích nghi nhằm so sánh sự khác nhau về mức độ hành vi thích nghi của trẻ ở Nghệ An và Hà Nội, giữa các giai đo n độ tuổi (3 – 5 tuổi). Đồng thời, đề tài xác đ nh được mối liên quan của các yếu tố hoàn cảnh gia đình, cách chăm sóc và giáo dục của cha mẹ, v.
đối với mức độ hành vi thích nghi của trẻ.[20] Tác giả Trần Th Lệ Thu với đề tài: “nghiên cứu mức độ hành vi thích ứng của trẻ khuyết tật trí tuệ theo thang ABS-S:2” đưa ra kết luận: “Trẻ thuộc cùng mức có mức độ hành vi thích ứng không giống nhau. Trẻ khuyết tật trí tuệ mức nhẹ có các tĩnh vực và yếu tố hành vi thích ứng chủ yếu đ t mức trung bình và trung bình cao trở lên; trẻ khuyết tật trí tuệ lo i trung bình thì đa số có hành vi thích ứng đ t mức trung bình và trung bình cao; trẻ khuyết tật trí tuệ lo i nặng chỉ chủ yếu đ t mức trung bình và trung bình thấp; Hầu hết trẻ khuyết tật trí tuệ có khó khăn về các lĩnh vực và yếu tố hành vi 6 thích ứng như: ngôn ngữ, liên kết xã hội, số và thời gian, ho t động độc lập; độc lập trong cộng đồng, trách nhiệm cá nhân và xã hội.”[12] Trong bài báo “Giáo dục hành vi thích ứng với ho t động tự lập cho trẻ rối lo n phổ tự kỷ theo phương pháp Montessori” của tác giả Vũ Duy Chinh đưa ra kết luận: “Có mối tương quan giữa mức độ tự kỷ và mức độ thích ứng với ho t động tự lập của trẻ RLPTK. Thích ứng cao nhất là những trẻ RLPTK mức độ nhẹ và trung bình, thấp nhất là trẻ tự kỷ mức độ nặng. Nghiên cứu về các biện pháp nâng cao hành vi thích ứng Trong luận án Tiến sĩ, tác giả Phan Quốc Lâm đã đưa ra và thử nghiệm 6 biện pháp nâng cao mức độ thích ứng: 1.
Nâng cao hiểu biết của giáo viên về thích ứng, 2. Hình thành những hành vi phù hợp ngay từ đầu khi trẻ mới tới trường 3. Tăng cường tính xác đ nh của tình huống h c tập 4. Có thái độ ứng xử phù hợp với đặc điểm tâm lý từng h c sinh 5.
Phối hợp với gia đình h c sinh[6] Tác giả Nguyễn Tuấn Vĩnh đã thực nghiệm phương pháp xây dựng kế ho ch giáo dục cá nhân để nâng cao mức độ hành vi thích ứng cho trẻ mắc hội chứng Down. Tác giả xây dựng kế ho ch giáo dục cá nhân và đi vào thực nghiệm, từ kết quả mang l i. Nhóm tác giả kết luận rằng với trẻ có hội chứng Down, chỉ số IQ không thể thay đổi nhưng hành vi thích ứng có thể thay đổi nhờ quá trình giáo dục.[18] Trong bài báo đăng t p chí Giáo dục số 337, tác giả sử dụng phương pháp ho t động tự do Montessori để phát triển hành vi thích ứng cho trẻ có hội chứng Down và cho kết quả tốt trên một trường hợp điển hình.[19] Bài báo trong kỷ yếu hội thảo quốc tế lần thứ nhất về giáo dục trẻ rối lo n phát triển, tác giả Vũ Duy Chinh sử dụng 3 bài tập giáo dục theo phương pháp Montessori thì mức độ thích ứng với ho t động tự lập ở: “Kỹ năng cài khuy áo”; “Kỹ năng mặc áo- cởi áo - treo áo vào giá để áo” trẻ có mức độ thích ứng đồng đều ở các mức độ và tốt hơn “kỹ năng kỹ năng buộc dây giầy”. Đồng thời tác giả kết luận yếu tố độ tuổi có ảnh hưởng đáng kể đến mức thích ứng với ho t động tự lập, độ tuổi 10-12 thích ứng cao hơn so với trẻ RLPTK độ tuổi 7-9.
Yếu tố giới tính không ảnh hưởng đáng kể đến mức độ thích ứng với ho t động độc lập của trẻ RLPTK.[1] Tác giả Trần Th Quỳnh Trang đã đề xuất và thực nghiệm biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho h c sinh để nâng cao mức độ hành vi thích ứng [15] Tóm l i, các tác giả đã đề ra một số biện pháp và có những thực nghiệm chứng minh tính hiệu quả trong nâng cao mức độ hành vi thích ứng. Nhưng chưa có một đề tài nào đề cập và áp dụng liệu pháp Dohsahou hay chương trình Learning Language and Loving It, đây làm điểm đóng góp mới của luận văn. Khái quát chung v hành vi thích ng 1. Khái niệm hành vi thích ứng a.
Hành vi Từ điển Tâm lý h c của tác giả Vũ Dũng: Hành vi là sự tương tác với môi trường có ở động vật trên cơ sở tính tích cực bên ngoài (vận động) và bên trong (tâm lý) của chúng, tính tích cực có đ nh hướng của cơ thể sống đảm bảo thực hiện các tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Thuật ngữ hành vi được ứng dụng với các con vật, các cá thể nhất đ nh.[2] Từ điển Tâm lý h c của Lê Quang Sơn và Nguyễn Văn Luỹ: Hành vi là một hệ thống có mục đích rõ ràng của những hành động được thực hiện liên tiếp.