CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ QUA HOẠT ĐỘNG CHƠI TRONG LỚP MẪU GIÁO HÒA NHẬP 5-6 TUỔI 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về KNGT và KNGT của trẻ rối loạn phổ tự kỷ 1. Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp Nghiên cứu về KNGT, có thể điểm qua một số hướng nghiên cứu chính như sau: - Nghiên cứu mặt kỹ thuật của kỹ năng giao tiếp Trong các nghiên cứu về mặt kỹ thuật của KNGT, khi xem xét KN trong hoạt động, nhiều nhà tâm lý học hướng vào mặt kỹ thuật của hành động.
Đại diện cho hướng này là các tác giả: V. Tsebuseva, Trần Trọng Thuỷ [18],[14] …Các nhà khoa học cho rằng, xuất phát từ chỗ coi KNGT là mặt kỹ thuật của hành động GT (những phương thức, thủ thuật, thao tác thực hiện hành động GT) khi nắm được kỹ thuật hành động GT đúng theo các yêu cầu kỹ thuật thì GT sẽ đạt được kết quả. Đóng góp quan trọng của hướng nghiên cứu này là đã chỉ rõ phương thức, thủ thuật, thao tác thực hiện hành động GT, cơ sở để xây dựng hình thành, củng cố các hành vi GT cụ thể cho mọi đối tượng. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, GT không chỉ là những thao tác kỹ thuật hành vi đơn thuần mà nó còn chứa đựng cả các yếu tố “người” khác mới có tính thuyết phục.
Ngoài ra, KNGT còn thể hiện năng lực của chủ thể GT làm cho cuộc GT đạt mục đích. - Nghiên cứu mặt năng lực của kỹ năng giao tiếp Các tác giả: E. Gobulep đã nhấn mạnh mặt năng lực của KNGT, giúp con người thực hiện một hoạt động có hiệu quả trong điều kiện mới, xuất phát từ hướng xem xét KN như là mặt năng lực hành động của con nguời [57],[46]. Ngoài ra, một số nhà khoa học Việt Nam cũng cho rằng, KN là năng lực vận dụng tri thức về hành động, hay các thao tác của hành động theo đúng quy trình để có kết quả mong muốn, đại diện là các tác giả Ngô Công Hoàn [28], Nguyễn Ánh Tuyết [83], Nguyễn Quang Uẩn [85], Vũ Dũng [15].
Nghiên cứu mặt năng lực của KNGT có 2 xu hướng: Xu hướng thứ nhất: xem xét KNGT như là năng lực thiết lập các mối quan hệ của con người trong GT, các tác giả tiêu biểu như: L.Lomov [45], [48]; Nguyễn Sinh Huy, Trần Trọng Thủy [31]… cũng đều khẳng định vai trò của KNGT như là năng lực thiết lập các mối quan hệ trong GT đối với cuộc sống con người. Thứ hai: luan an 10 xem xét KNGT như là năng lực điều khiển quá trình GT của con người. Một số đại diện tiêu biểu như A.Rakhmatulina; Hoàng Anh [3]. Xu hướng nghiên cứu này cho rằng, KNGT là khả năng chủ thể GT có thể điều khiển được nhận thức, thái độ, hành vi của đối tượng GT để đạt được mục đích của mình trong quá trình GT.
Các nhà nghiên cứu về KNGT đã có những quan niệm và cách nhìn nhận khác nhau về KNGT như sau: Nhà tâm lý học hiện đại B. Ngoài ra, có quan điểm cho rằng: “KNGT là năng lực của con người biểu hiện trong quá trình GT, đó là các khả năng sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ…là hệ thống các thao tác cử chỉ, điệu bộ, hành vi được chủ thể giao tiếp phối hợp hài hòa. Dakharov, Nguyễn Sinh Huy, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Văn Lê… để khẳng định vai trò của KNGT như là năng lực thiết lập các mối quan hệ trong GT đối với mọi người trong quá trình GT [39], [53]. Dựa vào các bước tiến hành của một pha GT cho rằng KNGT gồm có các KN sau [23]: (1) KN thiết lập các mối quan hệ trong GT; (2) KN cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng GT; (3) KN lắng nghe và biết cách lắng nghe đối tượng GT; (4) KN tự chủ cảm xúc và hành vi; (5) KN nhạy cảm trong GT; (6) KN diễn đạt dễ hiểu, gọn gàng, mạch lạc; (7) KN linh hoạt mềm dẻo trong GT; (8) KN thuyết phục trong GT; (9) KN điều khiển quá trình GT; (10) KN tự kiềm chế và kiểm tra đối tượng GT.
Cùng quan điểm như trên, các tác giả A. Kurbawa và Ph.Rakhmatinlira cho rằng quá trình GT gồm ba nhóm KN [3]: (1) Nhóm KN sử dụng ngôn ngữ; (2) Nhóm KN diễn đạt nghĩa trong câu. (3) Nhóm KN diễn đạt các đặc điểm văn phạm trong câu. Qua việc tổng thuật những nghiên cứu về KNGT trên thế giới và ở Việt Nam đã chỉ ra những hướng nghiên cứu chính về KNGT - nghiên cứu mặt kỹ thuật và mặt năng lực của KNGT.
Khi KNGT trở nên thuần thục, con người sẽ tự tin, chủ động điều khiển, điều chỉnh được quá trình GT theo chủ ý, mục đích GT của mình để đạt được hiệu quả GT, trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi nghiêng về cách hiểu theo pha GT. Những nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp của trẻ rối loạn phổ tự kỷ Trên thế giới, nghiên cứu về KNGT của trẻ RLPTK có các hướng tiếp cận như sau: luan an 11 Hướng thứ nhất, tiếp cận theo thuyết hành vi (tiêu biểu là chương trình ABA/VB): B. Skinner là một nhà tâm thần học nổi tiếng của Hoa Kỳ với thuyết hành vi. ABA/VB sử dụng lý thuyết phân tích hành vi ứng dụng của Skinner năm 1957 để dạy, khuyến khích trẻ nói và rèn luyện KN ngôn ngữ, học tập, kiểm soát hành vi cho trẻ RLPTK ở gia đình và trường học [130].
Cách tiếp cận VB dựa trên tất cả các nghiên cứu của ABA, đồng thời tăng cường khả năng học chức năng ngôn ngữ của trẻ. Skinner đã giới thiệu hai khái niệm chính trong tác phẩm của ông. Thứ nhất, ông đưa ra luận điểm ngôn ngữ là một hành vi bị chi phối bởi một số điều kiện trong môi trường. Chúng ta có thể làm tăng khả năng hành vi này diễn ra bằng cách tạo ra những điều kiện thúc đẩy hành vi xuất hiện và có khen thưởng sau khi hành vi xảy ra.
Thứ hai, Skinner đưa ra, ngôn ngữ có thể coi là một tập hợp các khía cạnh chức năng độc lập bao gồm yêu cầu, nhận biết tiếp thu (hồi đáp không lời với yêu cầu/mệnh lệnh), gọi tên/thuật lại, lặp âm (nhắc lại) và hỏi đáp. Để thực hiện được, cần tập trung vào cách chuyển tiếp hồi đáp của trẻ từ một khía cạnh này sang một khía cạnh khác. Thông thường, trẻ sẽ bắt đầu với chức năng yêu cầu vì chúng củng cố được hành vi đó nhiều nhất. Khi yêu cầu trẻ sẽ được vật trẻ muốn, từ đây có thể chuyển sang gọi tên.
Như vậy, cách tiếp cận theo thuyết hành vi có ý nghĩa trong giáo dục KNGT cho trẻ RLPTK, KNGT có thể bị chi phối bởi nhiều yếu tố từ môi trường xung quanh diễn ra hàng ngày nơi trẻ học tập và sinh sống. Nhà giáo dục nên xem xét các yếu tố tác động giúp thúc đẩy hành vi tích cực ở trẻ được thực hiện. Hướng thứ hai, tiếp cận theo thuyết phát triển (Tiêu biểu là chương trình DIR/ Floortime): Là mô hình dựa trên sự phát triển, sự khác biệt cá nhân và mối quan hệ. Mô hình chú trọng việc thúc đẩy sự phát triển bằng cách khuyến khích trẻ tương tác với cha mẹ và người khác qua vui chơi.
Nghiên cứu cho thấy sự tương tác này sẽ giúp trẻ đạt được các mốc trong sự phát triển cảm xúc, thúc đẩy sự phát triển một số lĩnh vực như phát triển cảm giác, KN vận động, nhận thức và phát triển GT. Vận dụng phương pháp này bắt đầu từ việc chơi trên sàn với trẻ, nương theo trẻ, chơi những gì trẻ muốn chơi. Nhà trị liệu cố gắng xây dựng tương tác với trẻ và đôi khi có thể “tạo trở ngại một cách thú vị” cho hoạt động của trẻ để khuyến khích tương tác và giải quyết vấn đề. Trong Floortime được thực hiện theo các bước: (1) Quan sát, tiếp xúc - mở ra chu trình GT; (2) Theo sự dẫn dắt của trẻ; (3) Mở rộng và phát triển trò chơi; (4) Trẻ khép lại chu trình GT [109].
Nhìn chung, có thể thấy ở cách tiếp cận này nhấn mạnh đến mối quan hệ trong tương tác giữa trẻ với những người xung quanh thông qua hoạt động chơi, chính sự tương tác này giúp trẻ phát triển các KN của mình, có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục KNGT cho trẻ. luan an 12 Hướng tiếp cận thứ ba (Điển hình có chương trình RDI): là phương pháp trị liệu hành vi dựa vào gia đình được thiết kế để giải quyết các triệu chứng chủ yếu của RLPTK. Phát triển bởi nhà tâm lý học Steven Gutstein, ông cho rằng, để giúp trẻ phát triển KNGT cần phải hình thành và phát triển mối quan hệ xã hội [131], giúp trẻ hiểu được bản thân (gọi tên, các bộ phận cơ thể), hiểu được mối quan hệ giữa trẻ và các đồ vật trong gia đình (tên gọi, đặc điểm, cách sử dụng), mối quan hệ giữa trẻ và các sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh. Trong mỗi hoàn cảnh tình huống có vấn đề trẻ RLPTK biết cách GT phù hợp.
Tác giả đã giúp cho CM, GV biết được một phương pháp mới trong việc phát triển KNGT cho trẻ RLPTK. Ông dựa trên lý thuyết “trí tuệ năng động” - khả năng suy nghĩ linh hoạt là chìa khóa để nâng cao chất lượng cuộc sống cho những người bị chứng tự kỷ. Có thể thấy, theo hướng tiếp cận RDI là việc thiết lập lại mối quan hệ hướng dẫn giữa cha mẹ và con tự kỷ. Mối quan hệ này được xem là nền tảng quan trọng nhất cho mọi việc học tập khác.
Sự khác biệt được nhấn mạnh giữa mối quan hệ hướng dẫn và các hình thức liên hệ với trẻ khác. Hướng tiếp cận kết hợp (Điển hình là cách tiếp cận Hanen - 1975). Nhà âm ngữ trị liệu Ayala Hanen Manolson đã phát hiện ra tiềm năng khi lôi cuốn CM tham gia vào chương trình can thiệp ngôn ngữ sớm cho trẻ. Chương trình hướng dẫn CM tận dụng các tình huống hàng ngày để phát triển ngôn ngữ - GT ở trẻ nhỏ.
Như vậy, trẻ được cung cấp một môi trường học tập ngôn ngữ - GT phong phú, trẻ có nhiều cơ hội để nghe, tương tác, thắt chặt mối quan hệ với CM. Chương trình cũng sử dụng sự kết hợp của các can thiệp: Mô hình lý luận xã hội-phát triển; Phân tích hành vi ứng dụng; Giảng dạy tự nhiên. Trung tâm Hanen chú trọng mảng can thiệp ngôn ngữ sớm cho trẻ chậm ngôn ngữ từ 35 năm trước, đến nay đã phát triển thêm ba mảng chuyên môn khác cũng nhằm thúc đẩy sự phát triển GT cho nhóm trẻ có nhu cầu đặc biệt.