Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỔ CẬP GIÁO DỤC TRẺ 5 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Nghiên cứu phổ cập giáo dục mầm non, về việc sớm cho trẻ được tới trường được nhiều tác giả ở nước ngoài quan tâm. Sau đây là một số nghiên cứu: Với bài viết “Working towards inclusive education – Hướng tới giáo dục hòa nhập” của Peter Mittler.
Tác giả đã nhận định rằng, thay đổi môi trường giáo dục nhà trường và hệ thống quản lí giáo dục là rất quan trọng đối với giáo dục trẻ. Việc thay đổi này bao gồm việc sửa đổi chương trình và phương pháp dạy học, thúc đẩy sự tham gia của phụ huynh. Nhận định trên được đưa ra sau khi tác giả đã dành sự quan tâm và chú ý của mình vào việc thay đổi, tạo môi trường giáo dục thích hợp cho việc thực hiện tổ chức quản lí giáo dục trẻ em. Trong đó, tác giả đã đặt ra các vấn đề cụ thể như điều chỉnh và sắp xếp chương trình như thế nào? giáo viên cần lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học như thế nào? các phương pháp giáo dục được thực hiện trong các cơ sở giáo dục đảm bảo cho trẻ phát triển; sự tác động can thiệp hỗ trợ từ phía giáo viên và vai trò, sự tham gia phối hợp của phụ huynh học sinh, tất cả phải được cụ thể trong một kế hoạch tổng thể và theo giai đoạn phát triển (Peter, 2000).
Đây cũng là các điều kiện giúp những nhà giáo dục xây dựng những biện pháp thực hiện hiệu quả trong quá trình thực hiện phổ cập giáo dục trẻ 5 tuổi trong các trường mầm non và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non. Bài viết “Managing effective earning and teaching – Quản lý việc học và dạy hiệu quả” của nhóm tác giả Ann R.J Briggs and Daniel Sommefeldt đưa ra những hướng nghiên cứu về việc quản lí hiệu quả trong giáo dục, tác giả đã cụ thể hóa tiến trình giáo dục, từ đó phát huy công tác quản lí chương trình và quản lí tiến trình giáo dục sao cho hiệu quả nhất. Tác giả cũng đưa ra sơ đồ quản lí nhà trường 9 xuất phát từ kết quả cần đạt được của người học, trên cơ sở đó thiết kế chương trình, nội dung, lựa chọn hệ thống phương pháp và kế hoạch hoạt động một cách hiệu quả (Ann and Danile, 2002) Theo bài “The econnmics of investing in universal preschool education in California – Kinh tế đầu tư vào phổ cập giáo dục mầm non ở California, Mỹ” của nhóm tác giả Lynn A. Bigelow, nghiên cứu thực hiện phổ cập giáo dục mầm non ở California - Mỹ, cho rằng việc thực hiện phổ cập giáo dục có sự tác động mạnh mẽ từ các yếu tố như: tình trạng nghèo đói; trình độ học vấn thấp của ba, mẹ; quyền được làm cha làm mẹ đơn thân; ngôn ngữ của cha, mẹ trẻ (tiếng Anh) đến chất lượng hoạt động phổ cập giáo dục trẻ 5 tuổi.
Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trẻ em được hưởng lợi từ các chương trình mầm non chất lượng cao hơn từ chương trình mầm non tiết kiệm bằng cách cắt giảm về một số điều kiện như trình độ giáo viên, tỷ lệ nhân viên/trẻ em, nhưng nghiên cứu không chỉ ra được những lợi ích cụ thể từ trẻ tham gia chương trình chất lượng cao (Lynn and James, 2005). Trong quyển “Phương pháp giáo dục Montessori”, Montessori cho rằng trẻ từ 0 – 6 tuổi rất nhạy cảm, đây cũng là quãng thời gian quan trọng và quý giá nhất, những trãi nghiệm của trẻ trong giai đoạn này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời của đứa trẻ khi lớn lên. Ở lứa tuổi này, chúng có thể tiếp nhận thông tin từ môi trường sống xung quanh rất nhanh. Trong đó, những đứa trẻ từ 4 – 5 tuổi thì lại tự nhiên bộc phát cảm hứng viết chữ khi không có sự hướng dẫn của người lớn (Montessori, 2007).
Từ lập luận trên, có thể nhận thấy rõ tầm quan trọng của việc cho trẻ đến trường ở giai đoạn này và đặc biệt là huy động trẻ 5 tuổi đến trường để từ đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ được phát triển và giúp trẻ hình thành những kiến thức, kỹ năng cơ bản để vững bước vào lớp 1. “Does loner compulsory education equalize schooling by Gender and Rural/Urban Residence? – Giáo dục bắt buộc có cân bằng giữa nam và nữ, giữa thành thị và nông thôn hay không?” là nghiên cứu của nhóm tác giả Murat, Meltem và Lsmet đã chỉ ra rằng, việc phổ cập giáo dục ở tuổi bắt buộc đi học có ý nghĩa quan trọng, nó ảnh hưởng tích cực đến nhận thức, thu nhập và sự giàu có suốt đời, 10 cũng như thúc đẩy tăng tưởng kinh tế và cải thiện phân phối thu nhập giữa các thế hệ, cải thiện việc đi học và sức khỏe trong tương lai trong các thế hệ. Đồng thời, nó cũng làm giảm bình đẳng về tiền lương, tội phạm và khả năng sinh sản ở tuổi vị thành niên (Murat et al. Với bài viết “Free and compulsory school age requirements – Yêu cầu về độ tuổi đi học miễn phí và bắt buộc” của Stephanie Aragon cho thấy, ở Mỹ việc phổ cập giáo dục luôn được quan tâm, để khuyến kích người dân không bỏ học, cũng như tăng tỷ lệ tốt nghiệp và tạo ra lực lượng lao động đáp ứng nhu cầu của các nhà tuyển dụng thể kỷ 21.
Các nhà hoạch định chính sách trên toàn nước Mỹ tiếp tục thúc đẩy mở rộng miễn phí và các yêu cầu bắt buộc về độ tuổi đi học từ 3 đến 18 tuổi. Nhiều tiểu ban đang xem xét cho phép trẻ em được tiếp cận sớm hơn với một nền giáo dục miễn phí, để họ có thể bắt đầu theo đuổi việc học tập sớm hơn trong cuộc sống. Ở hầu hết các tiểu bang đều thực hiện phổ cập giáo dục cho trẻ 5 tuổi, chỉ riêng bang Massachusetts là 3 tuổi và 4 tuổi đối với bang Florida, Illinois và Wisconsin, đặc biệt tất cả các bang đều được hưởng chính sách giáo dục miễm phí (Stephanie Aragon, 2015). Theo Tony Evers “Answers to frequently asked compulsory school attendance questions – Trả lời cho câu hỏi thường gặp về bắt buộc đi học” cho thấy bắt buộc đi học ở các Tiểu bang tại Mỹ đều được đưa vào Luật Tiểu bang với những quy định chế tài cụ thể đối với một số trường hợp trẻ không đến trường thường xuyên theo quy định (ngoại trừ bệnh tật phải có xác thực của bác sĩ).
Như ở Tiểu bang Wisconsin, cha mẹ hoặc người giám hộ có thể bị kết tội theo quy định của Liên bang, bị phạt 500 đôla hoặc bị phạt tù 30 ngày nêu vi phạm lần đầu, bị phạt 1000 đôla hoặc phạt tù 90 ngày nếu vi phạm lần thứ hai trở đi (Tony Evers, 2016) Còn trong bài viết “Compulsory Education in Europe – 2019/20 – Giáo dục bắt buộc ở Châu Âu – 2019/20” của Ủy ban Châu Âu (EACEA) cho rằng, trong 43 hệ thống giáo dục Châu Âu, giáo dục bắt buộc bắt đầu từ đầu tiểu học thường là 6 tuổi. Trong đó, Pháp và Hungary tuổi bắt đầu đi học sớm nhất là 3 tuổi, riêng Estonia bắt buộc giáo dục từ 7 tuổi. Đặc biệt, hơn một nửa số hệ thống giáo dục 11 Châu Âu, giáo dục bắt buộc toàn thời gian kéo dài từ 10-11 tuổi và kết thúc ở tuổi 15-16, ngoại trừ Romania đến 17 tuổi mới kết thúc việc tham gia giáo dục bắt buộc. Ở Hà Lan học sinh 16 tuổi chưa đạt được bằng cấp cơ bản (Startkwalificatie) phải tiếp tục giáo dục đến khi họ đủ 18 tuổi hoặc lấy bằng trung học phổ thông (HAVO).
Qua các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới thì có thể thấy rằng, các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển công tác PCGD cho trẻ được quan tâm. Phổ cập giáo dục sớm cho trẻ có ý nghĩa quan trọng trong việc đặt nền móng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm nghèo đói, tội phạm và tạo ra nguồn lao động chất lượng cao cho những thế hệ tương lai. Tại một số quốc gia có nền kinh tế phát triển thì công tác phổ cập giáo dục, còn được quan tâm hơn cả, tuổi đi học bắt buộc cũng được mở rộng từ 3 - 18 tuổi và có những chính sách hỗ trợ miễn phí giáo dục và chế tài nghiêm túc những đối tượng vi phạm quy định để huy động trẻ trong độ tuổi đi học bắt buộc được đến trường thường xuyên, giảm tỷ lệ trốn học, bỏ học không có lý do chính đáng. Các nghiên cứu trong nước Để thực hiện hiệu quả trong công tác PCGDMN trẻ 5 tuổi, Chính phủ cũng như Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành các văn bản hướng dẫn.
Có thể kể ra một số văn bản cụ thể như: Thông tư 32/2010/TT-BGDĐT của Bộ GDĐT ban hành quy định điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình công nhận phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi. Nghị định 20/2014/NĐ-CP về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, ngày 24/03/2014 của Thủ tướng chính phủ (Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2014); Thông tư 07/2016/TT-BGDĐT, Quy định về điều kiện bảo đảm và nội dung, quy trình, thủ tục kiểm tra công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, ngày 22/03/2016, Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016b); Thông tư 19/2018/TT-BGDĐT ngày 22/08/2018 của Bộ trưởng Bộ GDĐT Ban hành Quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường mầm non. Các văn bản này là cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện PCDGMN trẻ 5 tuổi ở nước ta. 12 Có một số tác giả tập trung nghiên cứu về PCGDMN trẻ 5 tuổi ở các góc độ khác nhau.
Tác giả Trần Thị Ngọc Trâm với bài viết “Thực trạng và giải pháp phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long” nhận định, tỷ lệ trẻ 5 tuổi được huy động ra lớp ở các tỉnh vùng ĐBSCL không đồng đều, trung bình chiếm 92,5%. Tác giả cũng chỉ ra rằng, các lực lượng tham gia PCGDMN trẻ 5 tuổi bao gồm: ban giám hiệu nhà trường, giáo viên dạy lớp 5 tuổi, lãnh đạo địa phương và các ban ngành, các tổ chức đoàn thể, các gia đình có trẻ 5 tuổi và cộng đồng… Ngoài ra, điều kiện về cơ sở vật chất, mạng lưới trường lớp, đội ngũ giáo viên, đời sống kinh tế gia đình có trẻ 5 tuổi, nơi sống… đây là các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác PCGDMN cho trẻ 5 tuổi.