Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Sức khỏe liên quan mật thiết đến sự phát triển của con người, sức khỏe tốt tạo điều kiện cho con người phát triển thể chất nói chung, học tập và lao động nói riêng. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy trí nhớ, sức chú ý, sự cần cù, độ dẻo dai trong học tập phụ thuộc rất nhiều vào trạng thái chung của sức khỏe và thể lực.
Có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu sau: Các trường Đại học Tufts Gerald J. Bên cạnh đó, chương trình “Dinh dưỡng và các hoạt động thể chất của trẻ 0- 5 tuổi” được ban hành tháng 9 năm 2007 của Bang California đã đưa ra nội dung ninh lương thực và thực phẩm lành mạnh. Chương trình tập trung vào việc tăng cường sự sẵn có của thực phẩm lành mạnh, tăng cường quan hệ đối tác với nông dân, thị trường và chương trình thực phẩm [dẫn theo 37]. Ở phương Tây, Bộ Y tế Cộng hoà Liên Bang Nga đã ban hành văn bản “Kiểm soát chất lượng thực phẩm nước trái cây trong chế độ ăn của trẻ em mẫu giáo” năm 2000 và nêu rõ giá trị dinh dưỡng, hàm lượng Vitamin trong rau và nước trái cây các loại và yêu cầu an toàn của sản phẩm nước trái cây trong chế độ ăn của trẻ em [dẫn theo 35].
Trong giai đoạn 1998 - 2004, Sở y tế Moscow đã tổ chức công tác cải thiện tình trạng nuôi dưỡng của trẻ em và thanh thiếu niên trong các cơ sở 5 giáo dục. Quy định đã cải tiến đáng kể về chất lượng chế độ ăn của trẻ em và thanh thiếu niên trong các cơ sở giáo dục, phạm vi thay đổi của thực phẩm được sử dụng trong chế độ ăn uống trong các cơ sở giáo dục mầm non và các trường phổ thông. Nhờ đó tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em, thanh thiếu niên đã giảm xuống một cách rõ rệt. Một yếu tố quan trọng trong việc cải thiện chất lượng nuôi dưỡng trẻ em ở các trường mầm non là việc tổ chức đấu thầu cung cấp các dịch vụ đô thị và ăn uống trong các cơ sở giáo dục công lập của thành phố Moscow [dẫn theo 26].
Cần lưu ý rằng quy định hiện hành về vệ sinh đã thiết lập các yêu cầu đặc biệt đối với thực phẩm dành cho trẻ mẫu giáo và học sinh. Năm 2000, chế độ dinh dưỡng của trẻ em và thanh thiếu niên trong các cơ sở giáo dục của thành phố được sử dụng 29 loại thực phẩm và vào cuối năm 2004 số lượng sản phẩm đã tăng lên đến hơn 200 loại. Chương trình của Chính quyền thành phố "Cải thiện dịch vụ ăn uống cho sinh viên và học sinh ở các cơ sở giáo dục tại thành phố Moscow giai đoạn 2004 - 2006” được Chính phủ phê duyệt ngày 06/07/2004 đã cung cấp cho các tổ chức giáo dục một hệ thống giám sát các thành phần định tính và định lượng của chế độ ăn uống và phân loại các sản phẩm được phép sử dụng trong chế độ dinh dưỡng của trẻ em và thanh thiếu niên. Mới đây, trong bài viết của tác giả Robert.
Mayer đã nhấn mạnh “Tại sao phải đầu tư vào chương trình chăm sóc và phát triển trẻ thơ từ những năm nhỏ tuổi, coi đây là một phần của chiến lược cơ bản, bởi vì cũng như trước khi xây dựng tòa nhà, ta cần xây dựng một cái nền bằng đá vững chắc trên cơ sở đó làm nền tảng xây nên toàn bộ công trình kiến trúc” [dẫn theo 26]. Trong công tác quản lý hoạt động nuôi dưỡng trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động nuôi dưỡng cho trẻ em và thanh thiếu niên và ở các cơ sở giáo dục nói chung, nhưng vẫn còn rất ít những công trình nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động nuôi dưỡng trẻ trong trường MN. Các nghiên cứu ở trong nước Bậc học GDMN đang ngày càng khẳng định tầm quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, được sự quan tâm của Đảng nhà nước trong việc đầu tư chăm lo cho GDMN. Nghiên cứu về GDMN và quản lý GDMN, tăng cường nghiệp vụ quản lý và tăng cường năng lực quản lý của các trường mầm non đã được quan tâm, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước và các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành về GDMN.
Cụ thể: - Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ ký vào ngày 22/02/2012. Bản Chiến lược đã đề ra mục tiêu tổng quát là "Đến năm 2020, bữa ăn của người dân được cải thiện về số lượng, cân đối hơn về chất lượng, bảo đảm an toàn vệ sinh; suy dinh dưỡng trẻ em, đặc biệt thể thấp còi được giảm mạnh, góp phần nâng cao tầm vóc và thể lực của người Việt Nam, kiểm soát có hiệu quả tình trạng thừa cân, béo phì góp phần hạn chế các bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng”. - Nếu như nội dung chăm sóc, nuôi dưỡng ở chương trình Chăm sóc giáo dục trước kia chỉ được coi như là một bộ phận, một nội dung để hỗ trợ cho các hoạt động học tập của trẻ ở trường mầm non thì trong Chương trình Giáo dục mầm non được ban hành theo Văn bản hợp nhất số 01/VBHN- BGDĐT ngày 24/01/2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nội dung giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe đã được quan tâm và coi đó như là một nhiệm vụ chính song song với nhiệm vụ giáo dục trẻ trong các trường mầm non và đây cũng là một trong những nội dung quyết định sự thành công của chương trình. Ngoài các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, có thể kể đến một số Luận văn Thạc sỹ của những tác giả như: - Tác giả Nguyễn Thị Minh Nguyệt với đề tài “Các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ của quản lý các trường 7 mầm non Quận 3 - Thành phố Hồ Chí Minh” [26].
Trong đó, tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ với đặc điểm trẻ ở thành thị, và đề xuất một số biện pháp khả thi về hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ ở vùng thành thị, thành phố lớn. - Tác giả Nguyễn Bá Hòa với đề tài “Quy hoạch phát triển giáo dục mầm non các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam đến năm 2015” [18]. Qua đó, luận văn cũng đã chỉ ra những điểm khó khăn để phát triển giáo dục mầm non huyện miền núi, và đề xuất các biện pháp phù hợp với điều kiện vùng núi Quảng Nam để phát triển giáo dục mầm non. - Tác giả Phạm Thị Hoa với đề tài “Một số biện pháp can thiệp sớm tình trạng suy dinh dưỡng cho trẻ từ 18 đến 36 tháng ở trường mầm non”[17].
Tác giả đã chỉ ra những đặc điểm về sự phát triển thể chất của trẻ từ 18 đến 36 tháng, từ đó xây dựng một số biện pháp nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ trong giai đoạn này. Về cơ bản, các công trình trên đã đề cập đến công tác chỉ đạo, biện pháp quản lý các trường mầm non, các kết quả nghiên cứu đã có những đóng góp nhất định đối với sự phát triển của GDMN tuy nhiên những công trình đi sâu về công tác quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở các trường mầm non huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang, một trong những nội dung quản lý trọng tâm của người quản lý còn ít được quan tâm nghiên cứu. Việc đi sâu vào các biện pháp quản lý công tác chăm sóc, nuôi dưỡng cụ thể cho cán bộ quản lý trong trường mầm non thì các công trình chưa đề cập đến một cách hệ thống. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý trường mầm non 1. Quản lý Có nhiều quan niệm về quản lý tùy thuộc vào các cách tiếp cận khác nhau. Chính từ sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến sự phong phú về các khái niệm “Quản lý”.W Taylor: “Quản lý là biết chính xác các điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [dẫn theo 18]. Theo Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [10].
Vậy, quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trên cơ sở biết sử dụng có hiệu quả các tiềm năng. Cơ hội của bộ máy để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường. Quản lý nhà trường Trường học là đơn vị cơ sở của ngành giáo dục đào tạo, quản lý nhà trường là một phần quan trọng trong quản lý giáo dục. Có nhiều khái niệm về quản lý trường học, ở đây xin nêu hai định nghĩa tiêu biểu: - Theo M.Konđacop: "Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục" [dẫn theo 14].
- Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: "Quản lý nhà trường là quản lý hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi tác động những tác động có ý thức, có khoa học và có hướng dẫn của chủ thể quản lý trên tất cả các mặt của của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội - kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên "[29]. Vậy, quản lý nhà trường là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích tự giác, có kế hoạch, có hệ thống) mang tính tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh và những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động cùng cộng tác, phối hợp tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường làm cho quá trình này vận hành đến việc hoàn thành những mục đích dự kiến.