phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn đƣợc trình bày trong 3chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề tại các trƣờng Mẫu giáo Thị xã Điện Bàn. Chƣơng 3: Biện pháp phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề tại các trƣờng Mẫu giáo Thị xã Điện Bàn và thực nghiệm sƣ phạm. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG HỢP TÁC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ 1.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về kĩ năng hợp tác và giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo Kĩ năng hợp tác là kĩ năng sống quan trọng, các kĩ năng hợp tác giúp con ngƣời có thể giải quyết một cách hiệu quả những vấn đề xảy ra trong cuộc sống. Những kĩ năng này cần đƣợc hình thành và phát triển ngay từ tuổi thơ ấu. Chính vì thế việc hình thành kĩ năng hợp tác của con ngƣời đã đƣợc nhiều nhà giáo dục quan tâm nguyên cứu.
Ở nƣớc ngoài Ở nƣớc ngoài, phƣơng pháp dạy học hợp tác đã sớm đƣợc hình thành và áp dụng trong mô hình giáo dục phƣơng Tây từ cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX bởi nhà giáo dục ngƣời Anh Andrew Bell (1789) và sau đó phát triển bởi Joseph Lancaster (1798) với hình thức dạy học tƣơng trợ [36]. Quan điểm này tiếp tục đƣợc mở rộng đến hệ thống giáo dục ở Massachusetts, Mỹ với phƣơng pháp thực tiễn của Francis Parker. Ông nhận thấy sự hợp tác trực tiếp liên quan đến tính dân chủ khi trẻ có thể chia sẻ trách nhiệm với nhau trong học tập, đồng thời không tin sự cạnh tranh trong trƣờng học sẽ đạt đƣợc hiệu quả cao hơn so với sự chia sẻ suy nghĩ thông tin về vấn đề học tập (Johnson và Johnson, 1994; Marr, 1997) [41], [44]. John Dewey (1940, 1966) đã đề ra và thực thi tƣ tƣởng đề cao khía cạnh xã hội của việc học và vai trò của nhà giáo dục trong việc giáo dục trẻ một cuộc sống 10 dân chủ.
Ông cho rằng con ngƣời có bản chất sống hợp tác, trẻ cần đƣợc dạy biết cảm thông, tôn trọng quyền của ngƣời khác, làm việc cùng nhau để giải quyết vấn đề theo lẽ phải và cần đƣợc trải nghiệm quá trình sống hợp tác ngay từ trong nhà trƣờng. Cuộc sống hợp tác trong lớp học thể hiện quá trình dân chủ hóa trong một thế giới vi mô và trung tâm của cuộc sống dân chủ ở đây là sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm [38]. Piaget (1960, 1965) nhấn mạnh vai trò của tƣơng tác “bạn bè” trong việc phát triển nhận thức của trẻ. Piaget tin rằng, cộng tác với nhau trong các nhiệm vụ phát sinh mâu thuẫn sẽ làm phong phú thêm kĩ năng giao tiếp của trẻ và tăng cƣờng phát triển trí tuệ [44].
5 Ở trong nƣớc Ở Việt Nam, những ý tƣởng về hợp tác cũng đƣợc hình thành từ rất sớm. Các câu ca dao, tục ngữ nói về hợp tác: “Một cây làm chẳng nên non, bacây chụm lại nên hòn núi cao”. “Đoàn kết, đoàn kết đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công” Tác giả Đặng Thành Hƣng trong cuốn “Dạy học hiện đại - Lí luận, biện pháp và kĩ thuật” cũng đƣa ra những bàn luận khá sâu sắc về vấn đề nhóm hợp tác và dạy học hợp tác cho trẻ nhỏ. Trong tài liệu này, tác giả đã đề cập đến đặc điểm của nhóm hợp tác, so sánh nhóm hợp tác với nhóm cạnh tranh và nhóm học kiểu cá nhân, các nguyên tắc, kĩ thuật dạy học nhóm nhỏ tác giả cho rằng quan hệ giữa ngƣời học với nhau trong quá trình dạy học hiện đại nói chung mang tính hợp tác và tính cạnh tranh tƣơng đối.
Tính chất này của dạy học làm cho nó năng động hơn, có động lực công khai và có chiều hƣớng hiệu quả hơn [14]. Tác giả Nguyễn Ngọc Bảo nghiên cứu về dạy học nhóm nhƣ là một hình thức dạy học có sự kết hợp giữa tính tập thể và tính cá nhân. Trong đó, học sinh dƣới sự chỉ đạo của giáo viên, trao đổi ý tƣởng, hợp tác với nhau trong việc lĩnh hội tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo. trong quá trình học nhóm, từng thành viên không chỉ có trách nhiệm với việc học của mình mà phải thể hiện tinh thần trách nhiệm với tập thể, quan tâm, giúp đỡ các bạn khác trong nhóm [ 3 ].
Tác giả Hoàng Mai với bài viết “Phương pháp hướng dẫn trẻ học tập hợp tác cần được chú ý hơn trong chương trình đào tạo giáo viên mầm non ” đã định nghĩa học tập hợp tác là tổ chức cho trẻ hoạt động cùng nhau trong nhóm nhỏ. Đồng thời, tác giả chỉ rõ vai trò của giáo viên khi hƣớng dẫn trẻ học hợp tác, xác định các kĩ năng cần thiết của trẻ khi tham gia vào nhóm hoạt động [22]. Cao Thị Cúc (2009) cho rằng trẻ 5-6 tuổi đã có các KNHT cơ bản khi tham gia vào các hoạt động chung của lớp mẫu giáo nhƣ cùng bạn thỏa thuận về chủ đề chơi, nội dung chơi, phân vai chơi cho nhau tuy nhiên tác giả cho rằng các kĩ năng này chƣa đƣợc hình thành đầy đủ và bền vững. Các kĩ năng này cần đƣợc rèn luyện trong nhóm bạn bè thông qua hoạt động vui chơi ở trƣờng MN, cụ thể là thông qua các trò chơi nhƣ: trò chơi ĐVTCĐ, trò chơi xây dựng lắp ghép, trò chơi vận động.
Trong “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” do Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009) đƣa ra, tích cực hợp tác là một trong những nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực tình cảm – quan hệ xã hội cần rèn cho trẻ 5 - 6 tuổi để chuẩn bị vào lớp một. Bộ chuẩn này cũng đƣa ra các chỉ số thể hiện sự hợp tác với bạn bè và mọi ngƣời xung quanh nhƣ: lắng nghe ý kiến của mình với ngƣời khác, trao đổi ý kiến với ngƣời khác, thể hiện sự thân thiện, đoàn kết với bạn bè, chấp nhận sự phân công của nhóm bạn và ngƣời lớn, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đơn giản cùng ngƣời khác [5] [2] 6 Tóm lại, hình thành kĩ năng hợp tác cho ngƣời học là một vấn đề đã đƣợc quan tâm nghiên cứu ở Việt nam cũng nhƣ trên thế giới trong vài thế kỉ trở lại đây. Với đề tài “Giáo dục KN trò chơi đóng vai có chủ đề cho trẻ 5- 6 tuổi ở trƣờng mầm non.”, tác giả khẳng định TCĐV có chủ đề của trẻ mẫu giáo là 1 hoạt động vui chơi, giúp trẻ phát triển KNHT một cách hiệu quả. Tác giả đã đề xuất các biện pháp giáo dục KNHT cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, thông qua TC ĐVTCĐ nhƣ giáo dục trẻ trƣớc khi chơi, trng khi chơi, khi kết thúc trò chơi.
Các công trình nghiên cứu về trò chơi đóng vai theo chủ đề Vấn đề lí luận về trò chơi nói chung và trò chơi đóng vai theo chủ đề (hay còn gọi trò chơi đóng vai theo chủ đề, trò chơi giả vờ, trò chơi tƣởng tƣợng…) nói riêng nhằm giáo dục, phát triển nhân cách trẻ MN đã đƣợc các nhà tâm lý, giáo dục học trên thế giới đặc biệt quan tâm. Hầu hết các nhà nghiên cứu đều xác định trò chơi đóng vai có chủ đề đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của trẻ.Piaget là ngƣời có công lớn trong phát triển các luận điểm về trò chơi khi ông đƣa ra khái niệm trò chơi ký hiệu với bản chất biểu trƣng (tƣợng trƣng) và giả bộ. Ông đã phân biệt ba mức độ hay ba dạng của hành vi biểu trƣng ký hiệu ở trẻ bao gồm: Mức 1: Trẻ vận dụng một sơ đồ ký hiệu ở các đối tƣợng mới; Mức 2: Cũng chỉ liên quan đến một sơ đồ ký hiệu nhƣng xuất hiện sự thay thế của một sự vật này cho sự vật khác hoặc trẻ có thể hành động giống (giả bộ) một ngƣời nào đấy hay với một sự vật nào đấy; ở mức độ này, hành vi bắt chƣớc (giả bộ) đƣợc mƣợn từ mẫu hành vi của ngƣời khác; (iii) Mức 3: Chức năng biểu trƣng của trò chơi ký hiệu đƣợc biểu hiện bởi một tổ hợp các sơ đồ ký hiệu tổ chức theo trật tự hay mẫu các hành vi thực. Về phân loại trò chơi đóng vai, theo Lindsey và Colwell (2013), có hai loại cơ bản, đó là chơi tƣởng tƣợng và chơi theo kịch bản.
Chơi tƣởng tƣợng thƣờng bắt đầu từ khoảng 2 tuổi và phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mẫu giáo khi trẻ bắt đầu tƣơng tác với các trẻ khác tuổi và đƣợc tiếp xúc với nhiều đồ chơi, nhiều môi trƣờng hơn. Khoảng 10-17% hành vi chơi của tất cả các trẻ mẫu giáo có thể đƣợc nhóm lại theo hình thức này. Còn với hình thức chơi theo kịch bản, trẻ đƣợc hƣớng dẫn đóng vai theo cốt truyện đã đƣợc xây dựng, đƣợc hoàn toàn đắm mình trong câu chuyện, chẳng hạn nhƣ siêu nhân, ngƣời đẹp ngủ trong rừng… Việc chơi trò đóng vai cho phép trẻ tạo lập và duy trì các mối quan hệ xã hội với các bạn đồng trang lứa.Trẻ sẽ hình thành các mối quan hệ khi chúng nói “Hãy giả vờ đóng vai” và giao cho một đứa trẻ khác một vai trò trong câu chuyện [42]. Ở Việt Nam, các nghiên cứu đã bàn luận khá sâu về các vấn đề liên quan đến trò chơi đóng vai theo chủ đề.
Bàn về hành vi ký hiệu tƣợng trƣng trong trò chơi đóng vai theo chủ đề của trẻ mẫu giáo, theo Trần Thị Nga, chức năng ký hiệu tƣợng trƣng là một hành vi chơi thiết yếu của trò chơi đóng vai theo chủ đề. Những yếu tố tƣợng trƣng này thƣờng là vai chơi và thao tác vai chơi. Theo tác giả, hành vi ký hiệu tƣợng trƣng trong trò chơi 7 đóng vai theo chủ đề của trẻ bao gồm các thành tố: (i) Sử dụng vật này nhƣ một ký hiệu để biểu trƣng cho vật khác; (ii) Hành động biểu trƣng với vật thay thế; (iii) Nhập vai ngƣời khác (hay giả bộ là ngƣời khác); (iv) Tình huống chơi giả bộ hay tình huống chơi tƣởng tƣợng.