PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do lựa chọn vấn đề can thiệp. Tự kỷ là một loại khuyết tật do rối loạn của hệ thần kinh gây ảnh hƣởng đến hoạt động não bộ. Tự kỷ đƣợc coi là căn bệnh của thời đại, số lƣợng trẻ tự kỉ tăng lên nhanh chóng ở tất cả các quốc gia trên thế giới, TTK đƣợc báo cáo xảy ra trong tất cả các nhóm chủng tộc, màu ĐP, các dân tộc và nền kinh tế xã hội khác nhau.
TTK có những rối loạn của hệ thần kinh gây ảnh hƣởng đến hoạt động não bộ dẫn đến trẻ gặp khó khăn trong học tập, vui chơi, hòa nhập cộng đồng. Mức độ Tự kỷ ở m i trẻ mắc phải có sự khác nhau từ nhẹ đến nặng và thời điểm triệu chứng thể hiện ra cũng khác nhau. Nhƣng tất cả TTK đều có một điểm chung giống nhau là khó khăn về giao tiếp và tƣơng tác xã hội. Những khó khăn trong tƣơng tác xã hội đã ảnh hƣởng đến sự phát triển các lĩnh vực khác của TTK nhƣ ngôn ngữ, nhận thức và hòa nhập cộng đồng.
Do vậy, khắc phục những hạn chế trong tƣơng tác, đặc biệt là nâng cao tƣơng tác giữa trẻ và cha mẹ từ môi trƣờng gia đình TTK là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục nhóm trẻ này. Hiện nay các nhà chuyên môn đã đƣa ra nhiều biện pháp khác nhau nhƣ phƣơng pháp Phân tích ứng dụng hành vi (Applied Behavioral Analysis ABA) Phƣơng pháp Trị liệu và Giáo dục cho TTK và trẻ có khó khăn về giao tiếp (Treatment and Education of Autistic and related Communication handicapped children TEACCH) hay Hệ thống giao tiếp bằng cách trao đổi tranh ( Pictures Exchange Communication System – PECS) và các hoạt động h trợ khác nhƣ Hoạt động trị liệu (Occupational Therapy- OT), Trị liệu Tâm vận Động (Psychomotricite Therapy) Trò chơi không định hƣớng, Tích hợp giác quan, Trị liệu ngôn ngữ và lời nói, …. Nhƣ thế, để tiến hành việc chăm sóc trị liệu cho trẻ, chúng ta có khá nhiều biện pháp khác nhau. Tuy nhiên, hầu nhƣ các phƣơng pháp đƣợc áp dụng cho TTK đều đƣợc xây dựng trên nền tảng là một chƣơng trình trị liệu và can thiệp giữa giáo viên đặc biệt, và chuyên viên tâm lý với trẻ, mà chƣa quan tâm nhiều đến vai trò hay kỹ năng của phụ huynh.
Đúng hơn là chƣa chú trọng đến những can thiệp tại gia đình của cha mẹ, trên những hoạt động bình thƣờng hằng ngày của trẻ. Điều này xuất 1 z phát từ suy nghĩ là việc can thiệp, trị liệu là của các nhà chuyên môn, các phƣơng pháp là những kỹ năng rất khó, cần phải đƣợc đào tạo trong một thời gian dài, và phải đƣợc tiến hành tại các trung tâm, cơ sở giáo dục đặc biệt với những thiết bị mà gia đình khó có thể trang bị một cách đầy đủ đƣợc. Đây là một suy nghĩ đúng nhƣng chƣa đủ. Nói cách khác, việc chăm sóc giáo dục TTK phải đƣợc tiến hành bằng hai mũi giáp công, mà phụ huynh mới là mũi nhọn chủ lực.
Còn các giáo viên hay chuyên viên, tuy là đội quân tinh nhuệ, nhƣng chỉ đóng vai trò cố vấn hay giám sát là chủ yếu, và nếu có tác động thì cũng chỉ tác động trong một số kỹ thuật chuyên môn về tâm lý và ngôn ngữ. Chính suy nghĩ đặt hầu hết trách nhiệm lên vai các nhà chuyên môn, mà coi nhẹ một cách vô tình hay cố ý vai trò của phụ huynh đã làm cho kết quả của các hoạt động can thiệp – trị liệu bị hạn chế rất nhiều, thậm chí có nhiều trƣờng hợp không đạt đƣợc một kết quả đáng kể nào, nếu nhƣ phụ huynh chỉ biết đƣa con đến cơ sở trị liệu. Bởi vậy cần xây dựng các chƣơng trình, hoạt động để can thiệp và trợ giúp cho trẻ và phụ huynh ngay tại môi trƣờng gia đình của họ. Phƣơng pháp Floortime là một trong những phƣơng pháp hiện nay đang đƣợc ứng dụng rộng rãi ở nhiều nƣớc trên thế giới và phƣơng pháp này đã đƣợc các chuyên gia đánh giá là khá hiệu quả trong việc can thiệp và trị liệu cho TTK tại gia đình.
Bởi thế, rất cần thiết để ứng dụng rộng rãi phƣơng pháp này tại Việt Nam, trong việc trị liệu cho TTK tại gia đình. Việc ứng dụng phƣơng pháp này trong can thiệp trị liệu cho TTK tại gia đình là một liệu pháp thiết thực, phƣơng pháp này còn trang bị cho phụ huynh những kiến thức căn bản trong việc tƣơng tác và trợ giúp cho TTK ngay tại gia đình. Hiện nay TTK đƣợc xã hội quan tâm hơn và đã có bƣớc chuyển trong việc xã hội hóa dạy trẻ tự kỉ. Nhiều mô hình, biện pháp can thiệp khác nhau dành cho trẻ tự kỉ đã đƣợc xây dựng và ứng dụng.
Trong xu thế hiện nay thì giáo dục TTK tại cộng đồng đang là hƣớng đi chủ đạo với những biện pháp can thiệp đạt hiệu quả cao, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội. Nói đến giáo dục cộng đồng trƣớc hết là giáo dục cho TTK tại gia đình. Hoạt động này vô cùng quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn 2 z phát triển sớm của TTK (từ 2 -3 tuổi), đây là giai đoạn trẻ cần đƣợc can thiệp sớm để có thể có cơ hội phát triển trong tƣơng lai và hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam cho thấy hoạt động can thiệp và trợ giúp cho TTK tại chính gia đình còn hạn chế và chƣa đạt hiệu quả cao.
Các mô hình trợ giúp dành cho TTK vẫn còn thiếu và yếu. Bởi vậy rất cần có thêm những phƣơng pháp, dịch vụ, mô hình thích hợp để trợ giúp cho TTK và phụ huynh của trẻ. Với vai trò một nhân viên Công tác xã hội tƣơng lai, tôi quan tâm đến đối tƣợng thân chủ là TTK và gia đình của trẻ vì vậy tôi mong muốn tiến hành can thiệp, trợ giúp cho TTK và gia đình trẻ ngay tại gia đình. Từ thực tế trên, tôi thực hiện can thiệp với tên đề tài: “Vận dụng phương pháp Floortime nhằm nâng cao tương tác giữa Trẻ tự kỷ với cha mẹ tại gia đình”.
Tổng quan những nghiên cứu, can thiệp liên quan can thiệp. Trên thế giới TTK đƣợc phát hiện vào những năm 40 của thế kỉ trƣớc nhƣng thực sự đã có từ rất lâu trong lịch sử loài ngƣời. Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng số lƣợng TTK càng đƣợc phát hiện nhiều tại các thành phố lớn, các khu đô thị. Hiện nay TK trở thành căn bệnh của thời đại và đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về trẻ TK.
Dƣới đây tôi xin tổng hợp những nghiên cứu liên quan tới TTK từ các nguồn tài liệu của các nƣớc trên thế giới. Các công trình nghiên cứu về vấn đề này rất đa dạng và đƣợc xem xét ở nhiều những khía cạnh khác nhau: - Nghiên cứu về phát hiện trẻ tự kỉ Jean Mare Itard ( 1774 – 1838) đã tiếp nhận một cậu bé “hoang dã” tên là Victor. Những mô tả cho thấy, cậu bé không có khả năng hiểu và biểu đạt ngôn ngữ, không có khả năng giao tiếp hoặc nhận thức, cách ứng xử xa lạ với cuộc sống của xã hội loài ngƣời. Victor bị mất khả năng giao tiếp về mặt xã hội và không có khả năng nhận thức nhƣ trẻ bình thƣờng.
Ngày nay, ngƣời ta cho rằng Victor chính là TTK. Để khắc phục tình trạng này Itard đã nghĩ rằng giáo dục TTK khác với những trẻ khác [2]. 3 z Thuật ngữ Tự kỷ (Autism) đƣợc bác sỹ tâm thần ngƣời Thụy Sỹ Engen Bleuler (1857 – 1940) đƣa ra năm 1919 để mô tả giai đoạn bắt đầu của rối loạn thần kinh ở ngƣời lớn, đây là hiện tƣợng mất nhận thức thực tế của ngƣời bệnh khi cách ly với đời sống thực tại hàng ngày và nhận thức của ngƣời bệnh có xu hƣớng không thống nhất với kinh nghiệm thông thƣờng của họ [2]. Cho đến năm 1943, bác sỹ tâm thần ngƣời Mỹ Leo Kanner đã mô tả trong một bài báo với nhan đề “Autism Disturbance of Effective Contract”.
Ông cho rằng TTK là trẻ thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với ngƣời khác, cách thể hiện các thói quen hàng ngày rất giống nhau, tỉ mỉ và rập khuôn; không có ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ nói thể hiện sự bất thƣờng rõ rệt ( nói nhại lời, nói lí nhí, không nhìn vào mắt giao tiếp); rất thích xoay tròn các đồ vật và thao tác rất khéo; có khả năng nâng cao quan sát không gian và trí nhớ “ như con vẹt”, khó khăn trong việc thực hiện các trò chơi đóng vai theo chủ đề nhƣ: cho búp bê ăn, nói chuyện điện thoại, bác sĩ tiêm bệnh nhân,.; chỉ hiểu nghĩa đen của câu nói, thích tiếng động và vận động lặp đi lặp lại đơn điệu; giới hạn đa dạng các hoạt động tự phát, mặc dù vẻ bề ngoài nhanh nhẹn, thông minh. Kanner nhấn mạnh triệu chứng Tự kỷ có thể phát hiện đƣợc ngay khi trẻ ra đời hoặc trong khoảng 30 tháng đầu. Công trình khoa học của Kanner đã đánh dấu một bƣớc ngoặt trong lịch sử giáo dục TTK, ngày nay là cơ sở của nhiều công trình nghiên cứu tại nhiều nƣớc thế giới [2]. Năm 1944, một bác sỹ tâm thần ngƣời Áo là Han Asperger (1906 – 1980) sử dụng thuật ngữ Autism trong khi mô tả những vấn đề xã hội trong nhóm trẻ nam mà ông làm việc.
Mô tả của ông nhƣ sau: ngôn ngữ của trẻ phát triển bình thƣờng, tuy nhiên trong cách diễn tả và cách phát âm nhiều cung điệu lên xuống không thích hợp với hoàn cảnh; có những rối loạn trong cách sử dụng đại từ nhân xƣng ngôi thứ nhất “con”, “t i” lẫn lộn với ngôi thứ hai và ba. Trẻ vẫn có những tiếp xúc về mặt xã hội nhƣng có xu hƣớng thích cô đơn, đơn độc. Rối loạn đặc biệt nhất trong hội chứng này là cách suy luận rƣờm rà, phức tạp, không thích ứng với những điều kiện, hoàn cảnh xã hội. Những trẻ này có sở thích đặc biệt về mặt kỹ thuật và toán 4 z học và có khả năng nhớ tốt một cách lạ thƣờng [12], [13], [14] mọi ngƣời lấy tên của ông để đặt tên cho hội chứng này là Asperger.
Cũng từ những năm 60 của thế kỷ XX, những hiểu biết về Tự kỷ đã có những thay đổi hết sức lớn lao. Đặc biệt, nghiên cứu của Michael Rutter đã chỉ ra rằng cách chăm sóc, giáo dục của cha mẹ không phải là nguyên nhân chính dẫn đến việc trẻ bị Tự kỷ [13], [14]. Trong những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, ngƣời ta bắt đầu xem xét đến khái niệm phổ Tự kỷ.