Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorders - ASD) là một khuyết tật phát triển thần kinh kéo dài suốt cuộc đời, khởi phát trong những năm đầu đời và ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng hoạt động của não bộ. Trẻ rối loạn phổ tự kỷ thường gặp phải những khiếm khuyết cốt lõi về tương tác xã hội, hạn chế trong khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, đồng thời xuất hiện các hành vi, sở thích rập khuôn, định hình mang tính hạn hẹp. Trong các khó khăn đó, rào cản về kỹ năng giao tiếp là nguyên nhân chính khiến trẻ khó hòa nhập vào đời sống học đường và cộng đồng.

Đối với lứa tuổi mầm non 5 – 6 tuổi, giao tiếp đóng vai trò nền tảng cho việc hình thành nhân cách, nhận thức thế giới xung quanh và chuẩn bị tâm thế bước vào trường tiểu học. Việc tổ chức hoạt động nhóm tại các lớp mầm non hòa nhập tạo ra môi trường tương tác tự nhiên giữa trẻ tự kỷ và trẻ phát triển bình thường, giúp xóa bỏ cảm giác bị cô lập, tạo nhu cầu giao tiếp và rèn luyện các kỹ năng xã hội đồng đẳng. Tuy nhiên, trong thực tế tại các trường mầm non, sĩ số lớp đông cùng sự hạn chế về kỹ năng sư phạm chuyên biệt khiến việc hỗ trợ trẻ tự kỷ trong hoạt động nhóm còn nhiều trở ngại.

Khóa luận "Phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động nhóm" do sinh viên Lê Thị Oanh thực hiện tại Khoa Giáo dục Mầm non, Trường Đại học Hồng Đức (Thanh Hóa, tháng 6/2020) dưới sự hướng dẫn của ThS. Hồ Sỹ Hùng, nhằm giải quyết vấn đề thực tiễn trên.

Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng, đề tài đề xuất một số biện pháp sư phạm nhằm phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động nhóm ở trường mầm non.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 5 – 6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động nhóm.
  2. Khảo sát thực trạng phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 5 – 6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động nhóm tại trường mầm non.
  3. Đề xuất các biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 5 – 6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động nhóm ở trường mầm non.

Đối tượng và khách thể nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động nhóm ở trường mầm non.
  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 5 – 6 tuổi.

Phạm vi và địa bàn nghiên cứu:

  • Khách thể khảo sát thực tế: 12 trẻ rối loạn phổ tự kỷ 5 – 6 tuổi (mức độ nhẹ) đang học hòa nhập và 42 giáo viên mầm non trực tiếp dạy hòa nhập.
  • Không gian khảo sát: 03 trường mầm non trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, bao gồm:
    • Trường Mầm non Hoằng Lý (huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa).
    • Trường Mầm non Ngọc Lĩnh (huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa).
    • Trường Mầm non Thanh Sơn (huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các tài liệu chuyên ngành tâm lý học phát triển, giáo dục học mầm non và giáo dục đặc biệt:

  • Khái niệm và tiêu chuẩn chẩn đoán tự kỷ: Sử dụng định nghĩa theo Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần tái bản lần thứ 5 (DSM-V) của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (APA), định nghĩa của Liên Hợp Quốc (2008), kết hợp lịch sử nghiên cứu từ Leo Kanner (1943), Hans Asperger (1944), E. Bleuler (1911), B. Rimland (1964) và các phương pháp can thiệp quốc tế (ABA, TEACCH).
  • Lý luận về hoạt động và giao tiếp: Tiếp cận theo tâm lý học hoạt động của L.S. Vygotsky, A.N. Leontiev, B.F. Lomov, kết hợp quan điểm của các tác giả trong nước như Trần Minh Đức, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn, Hoàng Anh. Kỹ năng giao tiếp được xác định là khả năng sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức, điều chỉnh quá trình tiếp xúc tâm lý nhằm đạt mục đích giao tiếp.
  • Hoạt động nhóm và Giáo dục hòa nhập: Dựa trên định hướng giáo dục hòa nhập của UNESCO và các quy định giáo dục mầm non hiện hành. Hoạt động nhóm được xác định là mô hình 6 – 7 trẻ (trong đó có 1 trẻ tự kỷ), cùng hợp tác thực hiện nhiệm vụ dưới sự điều phối của giáo viên và sự hỗ trợ của bạn đồng đẳng.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa tài liệu khoa học.
  • Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Thực hiện khảo sát 42 giáo viên mầm non bằng phiếu an danh gồm 10 câu hỏi về nhận thức, biện pháp, thuận lợi và khó khăn.
  • Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát có báo trước 09 hoạt động sinh hoạt và học tập (giờ học, giờ chơi, ăn, ngủ, đón – trả trẻ) để đánh giá biểu hiện giao tiếp của trẻ và cách tổ chức của giáo viên.
  • Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn sâu 06 phụ huynh có con tự kỷ và các giáo viên mầm non dạy hòa nhập.
  • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Đánh giá 10 kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục (giáo án) của giáo viên dựa trên 10 chỉ số thang điểm 10.
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study): Khảo sát, theo dõi chi tiết 12 trẻ rối loạn phổ tự kỷ 5 – 6 tuổi tại 3 trường mầm non.

Hệ thống tiêu chí đánh giá kỹ năng giao tiếp của trẻ: Tác giả xây dựng bộ công cụ đánh giá gồm 5 tiêu chí (mỗi tiêu chí 5 chỉ số, thang điểm 0 – 1 – 2, điểm tối đa 10 điểm/tiêu chí):

Tiêu chí Các chỉ số đánh giá thành phần Thang điểm quy ước
1. Tập trung chú ý - Lắng nghe người khác nói chuyện
- Nhìn vào đối tượng giao tiếp
- Tập trung vào chỉ dẫn của đối tượng giao tiếp
- Nhìn vào đồ vật trong một thời gian ngắn
- Tập trung vào một nhiệm vụ và lắng nghe hướng dẫn
- 0 điểm: Trẻ không thực hiện được kể cả khi có trợ giúp hoặc không chịu thực hiện.
- 1 điểm: Trẻ thực hiện được hoặc làm đúng nhờ có sự giúp đỡ (cầm tay, làm mẫu, gợi ý).
- 2 điểm: Trẻ thực hiện hoặc làm đúng độc lập, không cần trợ giúp.
2. Bắt chước - Bắt chước hành động của người khác
- Bắt chước âm thanh của người khác
- Bắt chước lời nói của người khác
- Bắt chước cử chỉ của người khác
- Bắt chước điệu bộ biểu lộ tình cảm
(Tương tự thang 3 mức độ 0 – 1 – 2; điểm tối đa: 10 điểm)
3. Luân phiên - Đáp ứng yêu cầu của người khác
- Chờ đến lượt mình khi hoạt động
- Lần lượt thực hiện hành động trong hội thoại/hoạt động
- Lần lượt sử dụng đồ vật
- Khởi đầu hội thoại và chờ người giao tiếp đáp lại
(Tương tự thang 3 mức độ 0 – 1 – 2; điểm tối đa: 10 điểm)
4. Hiểu ngôn ngữ - Hiểu chỉ dẫn bằng lời kết hợp cử chỉ, hành động
- Hiểu chỉ dẫn bằng lời nói đơn thuần
- Hiểu tranh, đồ vật và chỉ vào tranh/vật khi nêu tên
- Hiểu các cử chỉ thể hiện cảm xúc
- Hiểu tình huống chơi giả vờ đơn giản
(Tương tự thang 3 mức độ 0 – 1 – 2; điểm tối đa: 10 điểm)
5. Sử dụng ngôn ngữ - Đáp ứng bằng cách nhìn mặt, quay theo tiếng động
- Dùng cử chỉ/lời nói để chào, cảm ơn, xin lỗi
- Dùng cử chỉ/lời nói để yêu cầu, từ chối
- Dùng cử chỉ/lời nói để cung cấp thông tin, trả lời
- Dùng cử chỉ/lời nói để thu hút chú ý, duy trì giao tiếp
(Tương tự thang 3 mức độ 0 – 1 – 2; điểm tối đa: 10 điểm)

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận của việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5 – 6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động nhóm ở trường mầm non

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về tự kỷ và giao tiếp trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân tích các đặc điểm nhận thức đặc thù của trẻ rối loạn phổ tự kỷ:

  • Cảm giác: Ngưỡng cảm giác bất thường (dưới ngưỡng hoặc trên ngưỡng, quá nhạy cảm với âm thanh, xúc giác).
  • Tư duy và tưởng tượng: Gặp khó khăn trong trò chơi đóng vai, chơi giả vờ; trí nhớ máy móc tốt nhưng độ liên kết rời rạc, khó tổng kết và rút kinh nghiệm.
  • Chú ý: Khả năng tập trung kém, dễ bị phân tán, khó tuân thủ các trò chơi luân phiên chờ đợi.

Chương này cũng xác định rõ khái niệm, ý nghĩa, mục tiêu, nội dung 4 nhóm kỹ năng cần phát triển (chú ý, luân phiên, hiểu lời nói, sử dụng lời nói) và 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng trực tiếp (khả năng của trẻ, năng lực giáo viên, môi trường bạn bè đồng đẳng).

Chương 2: Cơ sở thực tiễn phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động nhóm ở trường mầm non

Chương 2 trình bày toàn bộ kết quả điều tra thực trạng tại 3 trường mầm non thuộc tỉnh Thanh Hóa. Nội dung tập trung vào:

  • Thực trạng nhận thức của 42 giáo viên về vai trò của hoạt động nhóm trong phát triển kỹ năng giao tiếp.
  • Đánh giá tần suất sử dụng các dạng hoạt động giáo dục và các biện pháp sư phạm của giáo viên.
  • Khảo sát các khó khăn khách quan và chủ quan mà giáo viên gặp phải.
  • Phân tích thực trạng bộc lộ 5 kỹ năng giao tiếp của 12 trẻ tự kỷ học hòa nhập thông qua quan sát sư phạm và nghiên cứu hồ sơ giáo án. Kết quả cho thấy các giáo án còn thiên về truyền thụ kiến thức chung, chưa có mục tiêu cá nhân hóa cho trẻ tự kỷ.

Chương 3: Biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động nhóm ở trường mầm non

Dựa trên kết quả khảo sát, chương 3 xác định 4 nguyên tắc sư phạm bắt buộc:

  1. Đảm bảo tính khoa học và môi trường giáo dục hòa nhập.
  2. Đảm bảo mục tiêu giáo dục hòa nhập.
  3. Đảm bảo tính phát triển.
  4. Đảm bảo tính cá biệt.

Từ các nguyên tắc trên, tác giả định hình hệ thống biện pháp can thiệp thông qua hoạt động nhóm: tổ chức nhóm nhỏ (6 – 7 trẻ với 1 trẻ tự kỷ), lồng ghép phân vai phù hợp trong góc phân vai/góc xây dựng, thiết lập vòng tay bạn bè hỗ trợ đồng đẳng và tăng cường liên kết giữa nhà trường với gia đình.


Kết quả và đóng góp

Kết quả khảo sát thực trạng giáo viên và hoạt động giáo dục

Khảo sát 42 giáo viên mầm non (58,4% trình độ Cao đẳng, 31,6% Đại học, 10% Trung cấp; 36,6% có từ 5 – 10 năm kinh nghiệm) ghi nhận các số liệu cụ thể:

1. Nhận thức của giáo viên:

  • 95,2% (40 GV) nhận định việc phát triển kỹ năng giao tiếp qua hoạt động nhóm là "Rất quan trọng"; 4,7% (02 GV) đánh giá "Quan trọng".
  • Về khó khăn chính của trẻ tự kỷ khi học hòa nhập: 47,6% (20 GV) chọn rào cản Giao tiếp, tương tác xã hội; 23,8% (10 GV) chọn Nhận thức; 16,7% (07 GV) chọn Sự hòa nhập và quan tâm của cộng đồng; 7,1% (03 GV) chọn Môi trường hoạt động; 4,8% (02 GV) chọn Gia đình.

2. Mức độ sử dụng các loại hình hoạt động giáo dục:

Loại hình hoạt động Luôn luôn Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ
Hoạt động chơi theo nhóm 59,5% (25 GV) 35,7% (15 GV) 4,8% (02 GV) 0%
Hoạt động học có chủ đích 35,7% (15 GV) 47,6% (20 GV) 16,7% (07 GV) 0%
Hoạt động tham quan 11,9% (05 GV) 23,8% (10 GV) 35,7% (15 GV) 28,6% (12 GV)

3. Mức độ áp dụng các biện pháp sư phạm của giáo viên:

STT Biện pháp sư phạm Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ
1 Sử dụng lời khen nhằm kích thích trẻ khi chơi 71,4% (30 GV) 28,6% (12 GV) 0%
2 Tạo môi trường giao tiếp tích cực trong lớp hòa nhập 59,5% (25 GV) 33,3% (14 GV) 7,1% (03 GV)
3 Kích thích trẻ tham gia thảo luận chủ đề chơi, chọn vai 50,0% (21 GV) 45,2% (19 GV) 4,8% (02 GV)
4 Khuyến khích bạn trong nhóm giao tiếp, hỗ trợ trẻ tự kỷ 50,0% (21 GV) 28,6% (12 GV) 21,4% (09 GV)
5 Hỗ trợ trẻ tự kỷ giao tiếp khi trẻ gặp khó khăn 45,2% (19 GV) 35,8% (15 GV) 19,0% (08 GV)
6 Tạo tình huống để trẻ tương tác và giao tiếp 16,7% (07 GV) 33,3% (14 GV) 50,0% (21 GV)
7 Cho trẻ luyện tập các kỹ năng giao tiếp 7,1% (03 GV) 35,8% (15 GV) 57,1% (24 GV)
8 Luân phiên các vai chơi 4,8% (02 GV) 45,2% (19 GV) 50,0% (21 GV)
9 Lập kế hoạch giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 0% 23,8% (10 GV) 76,2% (32 GV)

4. Khó khăn của giáo viên khi tổ chức hoạt động:

  • Sĩ số trẻ trong một lớp quá đông: 23,9% (10 GV).
  • Trẻ nghịch ngợm và không nghe lời: 21,4% (09 GV).
  • Không gian lớp học chật hẹp: 16,8% (07 GV).
  • Cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi chưa đầy đủ: 14,2% (06 GV).
  • Nhà trường và phụ huynh chưa quan tâm nhiều: 14,2% (06 GV).
  • Thời lượng dành cho các hoạt động quá ngắn: 9,5% (04 GV).

5. Thực trạng kỹ năng giao tiếp của 12 trẻ tự kỷ được khảo sát:

  • Tập trung chú ý: Khả năng duy trì chú ý rất ngắn, dễ phân tán, thường bỏ vị trí chạy lung tung hoặc nghịch phá đồ của bạn.
  • Bắt chước: Chỉ bắt chước được các thao tác đơn giản theo ý thích, độ chính xác chỉ đạt khoảng 30% – 40% so với trẻ bình thường.
  • Luân phiên: Không có khả năng chờ đợi đến lượt, hay nói độc thoại liên tục hoặc tranh cướp đồ dùng.
  • Hiểu ngôn ngữ: Khả năng tiếp nhận kém; câu phản hồi phổ biến nhất chỉ là "Dạ" hoặc lặp lại nguyên văn câu hỏi của cô (nhại lời).
  • Sử dụng ngôn ngữ: Rụt rè, ngại tiếp xúc, câu nói sai ngữ pháp, nói ngọng/nói lắp, không sử dụng cử chỉ điệu bộ và tránh giao tiếp bằng mắt.

Đóng góp của đề tài

  • Về mặt lý luận: Khóa luận góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 5 – 6 tuổi thông qua hình thức tổ chức hoạt động nhóm tại các cơ sở giáo dục mầm non hòa nhập.
  • Về mặt thực tiễn: Cung cấp bức tranh thực trạng chi tiết về năng lực giao tiếp của trẻ tự kỷ, nhận thức và phương pháp can thiệp của giáo viên tại tỉnh Thanh Hóa; đề xuất các nguyên tắc và định hướng biện pháp có tính khoa học, làm tài liệu tham khảo cho giáo viên mầm sinh và sinh viên chuyên ngành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu thực tiễn giới hạn ở mẫu khảo sát gồm 12 trẻ rối loạn phổ tự kỷ thể nhẹ và 42 giáo viên tại 3 trường mầm non thuộc 2 huyện (Hoằng Hóa và Tĩnh Gia) của tỉnh Thanh Hóa; khóa luận chưa thực hiện được giai đoạn thực nghiệm sư phạm đối chứng dài hạn để đo lường định lượng mức độ tiến bộ của trẻ sau can thiệp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô mẫu khảo sát trên nhiều địa bàn khác nhau, triển khai thực nghiệm sư phạm có nhóm đối chứng nhằm kiểm chứng cụ thể hiệu quả định lượng của từng biện pháp tổ chức hoạt động nhóm đối với từng mức độ tự kỷ khác nhau.

Giá trị tham khảo

Tài liệu có giá trị ứng dụng đối với:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Mầm non và Giáo dục Đặc biệt: Tham khảo khung lý thuyết, phương pháp nghiên cứu trường hợp và cách tiếp cận trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt.
  • Giáo viên mầm non dạy lớp hòa nhập: Ứng dụng trực tiếp bảng tiêu chí 5 kỹ năng giao tiếp (với 25 chỉ số đánh giá chi tiết) để lập hồ sơ theo dõi, thiết kế bài giảng nhóm (phân chia vai chơi, điều phối nhóm 6 – 7 trẻ) và xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân (KHGDCN).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng khung tiêu chí nào để đo lường kỹ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ?
Tác giả sử dụng bảng đánh giá gồm 5 tiêu chí: (1) Tập trung chú ý, (2) Bắt chước, (3) Luân phiên, (4) Hiểu ngôn ngữ, (5) Sử dụng ngôn ngữ. Mỗi tiêu chí gồm 5 chỉ số thành phần, chấm theo thang 3 mức độ (0 điểm: không thực hiện được; 1 điểm: thực hiện được khi có hỗ trợ; 2 điểm: thực hiện độc lập), tổng điểm tối đa cho mỗi tiêu chí là 10 điểm.

2. Khảo sát thực trạng được thực hiện trên cỡ mẫu nào và tại địa phương nào?
Đề tài khảo sát 42 giáo viên mầm non và nghiên cứu sâu 12 trường hợp trẻ rối loạn phổ tự kỷ 5 – 6 tuổi (mức độ nhẹ) tại 3 trường mầm non trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa: MN Hoằng Lý (huyện Hoằng Hóa), MN Ngọc Lĩnh (huyện Tĩnh Gia) và MN Thanh Sơn (huyện Tĩnh Gia).

3. Khó khăn lớn nhất của giáo viên mầm non khi phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ là gì?
Theo kết quả khảo sát 42 giáo viên, khó khăn lớn nhất là Sĩ số lớp học quá đông (23,9% GV lựa chọn), tiếp theo là Trẻ nghịch và không nghe lời (21,4%) và Không gian lớp học chật hẹp (16,8%).

4. Biện pháp giáo dục nào bị giáo viên bỏ quên nhiều nhất trên thực tế?
Biện pháp Lập kế hoạch giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ bị bỏ quên nhiều nhất với 76,2% giáo viên trả lời "Không bao giờ" thực hiện, tiếp đến là biện pháp Cho trẻ luyện tập các kỹ năng giao tiếp (57,1% không bao giờ) và Luân phiên các vai chơi (50,0% không bao giờ).

5. Khả năng bắt chước của 12 trẻ tự kỷ được khảo sát đạt mức độ như thế nào?
Trẻ tự kỷ chỉ bắt chước được các hành động đơn giản theo ý thích và chỉ đạt độ chính xác từ 30% đến 40% so với các bạn cùng lứa tuổi; trẻ không thực hiện được các thao tác phức tạp nếu thiếu sự hỗ trợ trực tiếp từ giáo viên.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Oanh đã làm rõ cơ sở lý luận và phản ánh chân thực thực trạng phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 5 – 6 tuổi tại các lớp mầm non hòa nhập trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù giáo viên nhận thức cao về tầm quan trọng của hoạt động nhóm, việc triển khai thực tế vẫn gặp nhiều rào cản do lớp đông, thiếu kế hoạch giáo dục cá nhân và kỹ năng giao tiếp của trẻ còn rất hạn chế. Hệ thống 4 nguyên tắc và các biện pháp sư phạm đề xuất trong khóa luận cung cấp định hướng thiết thực nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ trong trường mầm non.