Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM Ở TRƯỜNG MẦM NON 1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.Trên thế giới Từ thời cổ hy lạp, vấn đề giao tiếp được con người chú ý nghiên cứu như Xôcrat (470-399 TCN) và Platon (428-347 TCN) đã nói: Đối thoại như là sự giao tiếp trí tuệ phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người. Tuy nhiên trước thế kỷ XIX giao tiếp chưa được nghiên cứu như một môn chuyên nghành tâm lý học. Từ thế kỷ XIX ,giao tiếp đã được đánh giá có tầm quan trọng đặc biệt trong sự hình thành và phát triển bản chất xã hội con người.Trong tâm lý học Xô Viết, L.Vugotxki đã đề cập từ những năm 30 trong chương trình : “Sự phát triển của những chức năng tâm lý bậc cao”.Đặc biệt là từ những năm 70 đến nay, giao tiếp đã trở thành vấn đề rất quan trọng được nhiều nhà nghiên cứu tâm lý học quan tâm như: A.Lisana với cuốn “Nguồn gốc của sự hình thành giao tiếp trẻ em ”-1978; A.Llisana “ Sự phát triển giao tiếp ở trẻ mẫu giáo”-1974; A.Uxova với “ Vai trò của trò chơi trong giáo dục trẻ em”-1976,… Với các công trình: “Vấn đề giao tiếp,những đặc trưng của nó trong công việc của con người” của A.Bodalivo (1972) “Tâm lý học giao tiếp” của A.Leeonchiep(1974)…và tiếp sau đó có hàng loạt những công trình nghiên cứu khác về giao tiếp.
Và các công trình nghiên cứu đó chủ yếu đi theo hai hướng chủ đạo sau:hướng thứ nhất-Nhấn mạnh các khía cạnh thông tin trong giao tiếp; hướng thứ hai – Nhìn nhận lại bản chất giao tiếp trong hệ thống các khái niệm, phạm trù tâm lý học. Nhìn chung, hầu hết các công trình nghiên cứu kể trên đều đi sâu vào những vấn đề cơ bản của giao tiếp đó là: Khẳng định vị thế, vai trò, ý nghĩa mang tính chất quyết định của giao tiếp trong sự hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ; Tìm ra 7 được các chức năng quan trọng đặc biệt của giao tiếp đó là:thông báo và tiếp nhận thông tin, giúp trẻ tiếp thu và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của loài người từ đó giúp trẻ tìm hiểu khám phá thế giới xung quanh mình, thể hiện cảm xúc của mình với người xung quanh, và hỗ trợ trong quá trình phối hợp hoạt động cùng nhau.; Kể ra được các dạng giao tiếp của trẻ em.; Những con đường giao tiếp của trẻ. Cách thức tổ chức hoạt động giao tiếp cho trẻ.; Phương pháp nâng cao chất lượng hoạt động giao tiếp. RLPTK đề cập đến một loạt các rối nhiễu trong kỹ năng xã hội, giao tiếp bằng lời, hành vi lặp đi lặp lại.
Có khoảng 1% dân số thế giơi có rối loạn phổ tự kỉ (Theo trung tâm phòng chống bệnh dịch Mỹ (CDC), 2014). Ở nhiều nước trên thế giới, RLPTK trở nên phổ biến và trở thành một vấn đề mang tính xã hội. Tại các nước phương Tây như Anh, Mỹ, Úc,.RLPTK đã được xã hội hóa và hầu như mọi công dân đều có những hiểu biết nhất định về rối loạn này. Tỷ lệ trẻ mắc rối loạn phổ tự kỉ thay đổi nhanh chóng trong những năm gần đây.
Theo ước tính của Mạng lưới theo dõi Người khuyết tật Tự kỉ và theo dõi Người khuyết tật của CDC tại Mỹ tỉ lệ này vào năm 2000 là 1/150 trẻ, năm 2010 là 1/68 tăng 11,9% và phổ biến ở trẻ trai với tỉ lệ 4,5 lần so với trẻ gái (1/41 và 1/189) (CDC,2014). Trên thế giới, RLPTK đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ những năm cuối thế kỉ XIX, nhưng mãi đến năm 1943, nhà tâm thần học người Mỹ, Leo Kanner mới đưa ra lập luận rõ ràng về tự kỉ - là một rối loạn tâm thần học ở lứa tuổi nhỏ. Khái niệm tự kỉ đã có sự thay đổi so với ban đầu. Chúng ta có thể thấy thay đổi rõ nét về thuật ngữ, khái niệm, tiêu chí chuẩn đoán tự kỉ trong lịch sử phát triển của hai hệ thống phân loại quốc tế.
Đó là, Bảng thống kê, phân loại quốc tế về các bệnh và vấn đề có liên quan đến sức khỏe (Internatinal Statiscal Classification of Diseases and Related Health Problem- ICD) của tổ chức y tế thế giới (WHO) và sổ tay chuẩn đoán và thống kê những rối nhiễu tinh thần của Hội tâm thần Mỹ (American Psychiatric Association). 8 Thuật ngữ rối loạn phổ tự kỉ bắt đầu được xem xét từ những năm 70 -80 của thế kỉ XX. Theo quan điểm hiện đại này, tự kỉ theo cách gọi của Kanner được xếp vào phạp trù rộng hơn là rối loạn phổ tự kỉ (ASD). Rối loạn phổ tự kỉ bao gồm: rối loạn tự kỉ (Autistic Disorder), hội chứng Asperger, rối loạn bất hòa nhập tuổi ấu thơ, hội chứng Rett,.
Rối loạn phổ tự kỉ đã thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, hàng trăm cuốn sách ở các thể loại khác nhau đã được xuất bản. Nhiều nhà khoa học đã dành nhiều năm để nghiên cứu và trở thành tác giả của nhiều công trình nghiên cứu, nhiều đầu sách. Tiêu biểu là các tác giả như Leo Kanner, Eric Schopler, Ivan Lovass, Carol Grey, Lorna Wing, Bryna Seigel,.đặc biệt là Temple Gradin- một phụ nữ bị mắc rối loạn tự kỉ, bà là tác giả của những cuốn sách nổi tiếng như Emergence, Labelled Autistic,Thinking in Picture, The way I see it,.Các nhà nghiên cứu đã giúp công chúng ngày càng hiểu thêm nhưng bí ẩn của rối loạn này. Ở Việt Nam Trong lịch sử phát triển của dân tộc, của nhà nước Việt Nam, vấn đề về giao tiếp đã được coi trọng, nó được coi là nền tảng, là một trong những tiêu chuẩn, thước đo đánh giá nhân cách, đạo đức con người, là biểu hiện của nét đẹp văn hóa “Tiền của phân giàu nghèo, giao tiếp phân tầng văn hóa”.
Đến nay, giao tiếp trở thành nội dung nghiên cứu phổ biến ở nhiều lĩnh vực và được các nhà nghiên cứu quan tâm. Rất nhiều tác giả đã đề cập như: Nguyễn Văn Lê (1992), Nguyễn Khắc Viện(1995), Nguyễn Thị Phương và Dương Quang Huy (1997), Trần Minh Đức- Phạm Minh Hạc (1988), Ngô Công Hoàn (1992)… Theo “Tâm lý học đại cương” của Trần Minh Đức (Chủ biên): “Giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích nhận thức thông qua sự trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, sự ảnh hưởng tác động qua lại với nhau” [1]. Tác giả Trần Trọng Thủy với “Giao tiếp với sự phát triển nhân cách của trẻ”(1981) đã nghiên cứu về vai trò và mối quan hệ giữa giao tiếp với sự phát triển tâm lý, nhân cách của trẻ ở từng lứa tuổi phát triển khác nhau. Và ông khẳng định rằng “giao tiếp gắn liền với quá trình hoạt động xã hội của trẻ em, giúp trẻ hòa nhập với môi trường 9 xã hội”[2].
Bên cạnh đó, vấn đề khái niệm giao tiếp, hình thành nhu cầu và kỹ năng giao tiếp của trẻ được phản ánh trong các công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thạc, Ngô Công Hoàn, Lê Xuân Hồng. Các tác giả đã cho thấy giao tiếp đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của đứa trẻ. Đồng thời, các tác giả đã nói lên được nhu cầu giao tiếp của trẻ như thế nào, đặc điểm về giao tiếp của trẻ qua từng độ tuổi là khác nhau thông qua các tác phẩm cuả mình… Như vậy, các tác giả đều đã khẳng định được vị trí của giao tiếp trong quá trình giáo dục trẻ.Từ đó đề ra nhiều biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ.Ở Việt Nam RLPTK chỉ thực sự biết đến ở những năm đầu thế kỉ XXI và các nghiên cứu về rối loạn phổ tự kỉ cũng chỉ được tiến hành trong hơn khoảng 20 năm trở lại đây. Hầu hết các nghiên cứu được tiến hành trên các đối tượng trẻ Mầm non, một số ít trên trẻ tiểu học.
Việc sử dụng các chương trình và các phương pháp can thiệp cũng đã được đề cập đến trong một số nghiên cứu, như Phương pháp can thiệp tâm vận độngvà ngữ âm trị liệu, dạy trẻ hiểu cảm xúc, cách thức quản lí hành vi của trẻ và ứng dụng các phương pháp: Phân tích hành vi ứng dụng (ABA); trị liệu và giáo dục cho trẻ RLPTK có khó khăn về giao tiếp (TEACCH),. trong can thiệp cho trẻ RLPTK. Một số lí luận về phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi 1. Một số vấn đề về trẻ rối loạn phổ tự kỷ 1.
Khái niệm rối loạn phổ tự kỉ RLPTK được coi là một rối loạn phát triển não bộ có ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp và thiết lập các mối quan hệ xã hội cá nhân. Theo Wing (1996) thì hiện nay có nhiều ý kiến còn chưa thống nhất về định nghĩa tự kỉ cũng như mối quan hệ của nó với những khuyết tật thời thơ ấu của trẻ, bao gồm tất cả khó khăn trong học tập cũng như ngôn ngữ. Có rất nhiều những quan điểm, luận thuyết đã đựợc đưa ra về bản chất của tự kỷ. Năm 1911, bác sĩ tâm thần ngừời Thụy Sỹ, Engen Bleuler đã cho rằng tự kỷ có thể là hậu quả thứ phát của bệnh tâm thần.
Hội chứng tự kỷ thực sự được công nhận vào năm 1943, trong một bài báo với nhan đề “Autism Disturbance 10 of Effective Contract”, hội chứng này được bác sĩ tâm thần người Hoa Kỳ là Leo Kanner mô tả một cách rõ ràng và khoa học. Ông đã mô tả: TTK thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với người khác; cách chọn lựa các thói quen hàng ngày rất giống nhau về tính tỉ mỉ và kỳ dị; không có hoặc thể hiện sự bất thừờng rõ rệt;rất thích xoay tròn các đồ vật và thao tác rất khéo; có khả năng cao trong quan sát không gian và trí nhớ “như con vẹt”; khó khăn trong học tập ở những lĩnh vực khác nhau; vẻ bề ngoài những trẻ này xinh đẹp, nhanh nhẹn, thông minh; thích độc thoại trong thế giới tự kỷ; thất bại trong việc hiểu HV giả vờ và HV đoán trứớc; chỉ hiểu nghĩa đen của câu nói; thích tiếng động và vận động lặp đi lặp lại đơn điệu; giới hạn đa dạng các hoạt động tự phát. Ông cho rằng tự kỷ là một chứng rối loạn tâm thần hiếm gặp ở trẻ em, thường xuất hiện sau hai tuổi rưỡi và coi đó là đối tựợng điều trị của y học. Tiếp sau đó, Hans Asperger (1944), bác sĩ nhi khoa ngừời Áo cũng mô tả các triệu chứng tương tự gọi là “ tâm bệnh tự kỷ” mà về sau gọi là hội chứng Asperger.