Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ 5- 6 tuôi ở các trường mắm non. ~ Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng xã ¡ cho. trẻ Š-6 tuổi ở các trường mam non huyện Kon Ray, tinh Kon Tum ~ Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mam non huyện Kon Ray, tinh Kon Tum CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY HOAT DONG GIAO DUC KY NANG XA HOLCHO TRE 5-6 TUOI 6 CAC TRUONG MAM} IN 1. Tỗng quan các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mầm non.
Các nghiên cứu ở nước ngoài Phát triển tỉnh cảm, xã hội là một trong những nhiệm vụ thiết yếu nhất và đầy: thứ thách của thời thơ ấu. Giáo dục tình cảm xã hội góp phần đặt những viên gạch nền tảng cho việc học tập suốt đời, phát triển sức khoẻ thể chát, tỉnh thần vả góp phan xây dung xã hội hoä bình; phát triển các mối quan hệ tích cực của trẻ với thế giới xung quanh; tăng cường khả năng sẵn sảng vào lớp t và thành công trong tương lai. Các nhả nghiên cứu trên thể giới đã quan tâm đến vấn đề nảy tử rất lâu. Nghiên cửu của Elliott vả các công sự (2002) đã cung cấp một cải nhìn tổng quan về sự phát triển xã hội điền hình trong những nam mẫm non cũng như những ky vọng phủ hợp của cha mẹ đối với hảnh vi của trẻ mầm non; xem xét ngắn gọn quá trình đánh giá hoạt ng xã và xác định các kỹ năng cần điều trị và tập trung vào các phương pháp hiệu quả đẻ thúc đây các kỹ năng xã hội ở trẻ mẫu gido [18].
Nghiên cứu của Pinar và công sự (2010) đã xem xét các nghiên cứu về việc nâng cao kỳ năng xã hội cho trẻ trong giai đoạn mầm non ở Thổ Nhĩ Kỷ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các chương trình giáo dục kỹ năng xã hội như chương trình dựa. vào trò chơi, gia đình hoặc giáo n tham gia, chương trình hoạt động kịch, hoạt động câu chuyên, chương trình hợp tác và chương trình dựa trên dự án được áp dụng cho trẻ mầm non để đạt được kỹ năng xã hội. Nghiên cứu cũng kết luận rằng, kết quả của những nghiên cứu đó, người ta thấy rằng các chương trình giáo dục kỹ năng xã hội có hiệu quả hơn các kỹ năng như quyết đoán, thích ứng với xã hội.
Từ đó, các tắc giả cho rằng, điều cần thiết là phải tăng cường các nghiên cứu nhằm mang lại và cải thiện các kỹ năng xã hội và mớ rộng các chương trình giáo dục kỳ năng xã hội hiệu quả [20] Trong khi đó Arslan và nhóm nghiên cứu (2011) của mình đã đã điều tra mồi quan hệ giữa các đặc điểm cảm xúc và hành vi và các kỹ năng xã hội của trẻ em mẫu giáo. Đối tượng tham gia là 224 trẻ em 6 tuổi (115 nữ, 109 nam), Dữ liệu được thu thập bằng cách sử dụng Thang đánh giá kỹ năng xã hội (Avetoglu, 2003) và Thang đảnh giá hành vi và cảm xúc ở lửa tuổi mẫu giáo (Epstein, Synhorst, Cress, & Allen, 2009). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, có một môi quan hệ tích cực giữa các kỹ năng. giao tiếp giữa các cá nhân với nhau và điều tiết cảm xúc, sự sẵn sàng đến trường, sự tự tin trong xã hội và sự tham gia của gia đình.
Đồng thời có một mối quan hệ tích cực có ý nghĩa thống kê giữa giải thích bả lờinị năng lắng nghe và khả năng tự kiểm 6 soát và điều tiết cảm xúc, sự sẵn sảng đến trường, sự tự tin trong xã hội và sự tham gia của gia đình [17]. Maryam va cae cộng sự (2019) cúa mình lại nhẫn mạnh rằng, tuổi mẫm non là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của xã hôi. Các kỹ năng xã hội có được trong giai đoạn này là cơ sở cho sự thành công trong cuộc sống trong tương lai. Nghiên cứu nảy nhằm điều tra mức độ kỹ nãng xã hội của trẻ mẫu giáo ở nhả và ở trường mắm non vả kiểm tra môi liên hệ giữa kỹ năng xã hội của trẻ với nền tảng văn.
hóa và môi trường. Nhóm tác giả đã nghiên cứu cắt ngang sử dụng phương pháp chọn mẫu theo cụm nhiễu tầng đã được thực hiện trên 546 trẻ em hoc tai các trang tim mim non của một khu vực đô thị của Iran. Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi kỹ năng xã hội vả nhân khẩu học từ cha mẹ trẻ vả giáo viên. Kết quả cho thấy, các kỹ năng xã hội của trẻ em gái nhiều hơn kỹ năng xã hội của trẻ em trai ở nhả.
Hơn nữa, phan lớn trẻ em có kỹ năng xã hội ở mức độ trung bình theo quan điểm của cha mẹ và giáo viên. Hơn nữa, một mỗi liên hệ có ý nghĩa thống kê đã được tìm thấy giữa các lĩnh vực kỹ năng xã hội của trẻ và thứ hạng sinh của trẻ, tuổi của cha, công việc của cha, tuổi của giáo viên, trình độ học vẫn của giáo viên, kinh nghiệm của giáo viên và lớp học mầm non về số lượng trẻ em và loại lớp học. Các tác giá cũng cho rằng, cản quan tâm nhiều hơn đến tỉnh trạng gia đình và đặc điểm của giáo viên và trung tâm. mam non dé cải thiện các kỹ năng xã hội ở trẻ [ 19].
Nghiên cứu của Saide và công sự (2020) được thực hiện nhằm xác định ảnh hưởng của Chương trình Giảo dục Kỹ năng Xã hội áp dụng cho trẻ mẫu giáo trong. tuổi từ 48 đến 60 tháng đối với sự tự tôn trong học tập và kỳ năng giải quyết vấn đề của trẻ. Nhóm nghiên cứu bao gồm 16 trẻ mẫm non trong độ tuổi từ 48 đến 60 tháng. Trong nghiên cửu, Chương trình Giáo dục Kỹ năng Xã hội đã được áp dụng cho trẻ em trong hai ngảy một tuần trong suốt 14 tuần.
Khá năng giải quyết vẫn để và mức độ tự lập trong học tập của trẻ em được đo lường trước và sau chương trình. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cỏ sự khác biệt cỏ ý nghĩa (p <0.05) được xác định giữa điểm số của trẻ em trước và sau khi tham gia Chương trình Giáo dục Kỹ năng Xã hội. Sau khi kiểm tra, kết luận rằng Chương trình Giáo dục Kỹ năng Xã hội có ÿ nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục những kỹ năng cho cho trẻ [21] 1. Các nghiên cứu ở trong nước Giáo dục tình cảm xã hội là một trong các lĩnh vực giáo dục quan trọng đối với sự phát triển của trẻ mẫm non, điều này được thê hiện rõ không chỉ trong thực tiễn mà còn ở cả các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, Luật Giáo dục 2019 đã chỉ ra mục tiêu của giáo dục mẫm non là “nhằm phát triển toàn diện trẻ em vẻ thê chất, tình cảm, trí tuệ, thâm mỹ, hình thành yếu tổ đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một”.
Trong đó, tình cảm xã hội có vị trí quan trọng và đứng song song. với các lĩnh vực khác trong mục tiêu phát triển toàn diện trẻ em mã Luật giáo dục đã chỉ ra. Chương trình giáo dục mầm non 2009 (sửa đôi năm 2016) cũng xác định rõ năm lĩnh vực giáo dục bao gém: gido duc phat trién thé chat, gido duc phat trién nhan thức, giáo dục phát triển ngôn ngữ, giáo dục phát triển tình cảm - kỹ năng xã hội và thẩm mỹ. Các tac giả trong nước cũng đã chú ý nghiên cứu vấn dé nảy với những công trình tiêu biểu dưới đây.
Nguyễn Thị Thu Hạnh (2017) đề cập đến vẫn để giáo dục kĩ năng xã hội qua trải nghiệm cho tré mam non dưới góc độ phân tích một số vấn đề lỉ luận có liên quan như: Các khái niệm, mục đích, phân loại, phương pháp giáo dục kĩ năng xã hội cho trẻ va phan tích xu hướng thể giới trong giáo dục kĩ năng xã hội qua trải nghiệm (thông. qua việc xác định cơ sở lí luận vả chương trình giáo dục mẫm non của một số nước) al đưa ra những bải học kinh nghiệm cho Việt Nam về giáo dục kĩ năng xã hội qua trải nghiệm. Qua đỏ đề xuất một số ÿ kiến nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động. này [6] Nghiên cứu của Vũ Thị Ngọc Minh (2019) đã phân tích thực trạng mức độ kĩ năng hợp tắc của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua nghiên cứu khảo sát tại một số trường mầm non thuộc phạm vi nội thành và ngoại thành của thành phố Hà Nội.
Qua khảo sát thực tiễn cho thấy kĩ năng hợp tác của đa số trẻ mẫu giáo 5-6 tuôi đang ở mức. trung bình và cận khá. 2 kĩ năng tốt nhất trong số 16 kĩ năng hợp tác ở trẻ đó là kĩ năng. tham gia vào nhóm và kĩ năng thể hiện thái độ hợp tác.
Hẳu như toàn bộ các kĩ năng có vai trò hạt nhân, liên quan đến sự hợp tác, tương tác giữa các cả nhân trong quá trình cùng tham gia hoạt động đều đang ở ở mức trung bình và yếu, trong đó yêu nhất là kĩ năng điều chỉnh, tự điều chỉnh vả kĩ năng giải quyết mâu thuẫn. phát hiện trên từ thực trạng chính là một trong những cứ liệu quan trọng cho việc nghiên cứu cách thức tổ chức hoạt động chơi và các hoạt động giáo dục khác như lả một phương tiện để qua đỏ giáo dục, nâng cao mức độ phát triển của kĩ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuôi ở trường mẫm non [7] Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2019) đã phân tích, đánh giá nội dung về quản lí hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mầm non của hiệu trưởng các trường mâm non huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế gỗm 06 nội dung chính: 1) Xây dựng kế hoạch chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ; 2) Tổ chức thực hiện kế hoạch chăm sóc, điều dưỡng; 3) Quản lý các hoạt động chăm sóc và điều dưỡng; 4) Tô chức tập huấn cho giáo viên, nhân viên kiến thức chăm sóc, nuôi dưỡng; 5) Xây dựng môi trường chăm sóc, điều dưỡng; 6) Kiểm tra hoạt đông chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong trường mam non [5]. Luận văn của Mai Phương Nhã Trúc (2020) đã hệ thống hóa các vẫn đề lý luận về hoạt động bồi dưỡng năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ và lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực chăm sóc, giáo dục trẻ cho đội ngũ giáo viên mằm non dé làm cơ sở lý luận cho quá trình khảo sát tìm hiểu vẻ thực trạng hoạt động bồi dưỡng.