Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ TỪ 5-6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẪU GIÁO 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo Vấn đề hình thành kĩ năng sống, giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống, nhằm nâng cao khả năng hiểu biết và ứng dụng kĩ năng sống của trẻ em vào thực tiễn đã thu hút nhiều công trình nghiên cứu ở các tiếp cận khoa học khác nhau: giáo dục học, tâm lý học, xã hội học, kinh tế học, quản lý giáo dục. Tổng quan nghiên cứu của luận văn với mục đích xây dựng bức tranh toàn cảnh về các công trình nghiên cứu liên quan đến “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em ở các trường Mẫu giáo” sẽ tập trung vào 3 hướng sau: Hướng thứ nhất: Các nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống. Hướng thứ hai: Các nghiên cứu về công tác giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở các trường mầm non, mẫu giáo.
Hướng thứ ba: Các nghiên cứu về trường Mẫu giáo Để thực hiện nghiên cứu này tác giả đã tham khảo các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, cụ thể như sau: 1. Các nghiên cứu ngoài nước Nghiên cứu của Nasheeda (2008) thực hiện tại Hồng Kong về giáo dục kỹ năng sống cho lứa tuổi thanh thiếu niên cho thấy ở lứa tuổi này, trẻ phải trải qua nhiều thay đổi về phát triển thể chất, nhận thức, tình cảm và xã hội. Lúc này, trẻ cho rằng chúng không thể truyền đạt những gì chúng muốn với cha mẹ, GV và người lớn thường cảm thấy bản thân nằm giữa xung đột và tranh luận. Những tình huống đó khiến trẻ căng thẳng, tức giận, tự ti, dẫn đến kết quả học tập thấp và có những hành vi gây rối ở trường học cũng như ở nhà.
Chương trình giáo dục kỹ năng sống với các kỹ năng cơ bản để phát triển cá nhân và xã hội sẽ giúp trẻ ứng phó với những thách thức ngày trong đời sống. Thông qua đó, trẻ biết được cách thức tốt hơn để giao tiếp với người khác, nâng cao sự tự tin, học cách chịu trách nhiệm về hành động của mình, trưởng thành hơn, thích và biết đưa ra những lựa chọn và quyết định đúng đắn. [44] Theo MOE (2006), để giáo dục kỹ năng sống hiệu quả, GV cần sử dụng các phương pháp dạy và học. Trong đó, tạo cơ hội cho những người học xác định các vấn đề của bản thân, thảo luận về các giải pháp, lập kế hoạch và thực hiện các chương trình hành động hiệu quả.
Việc dạy và học kỹ năng sống thông qua các phương pháp có sự tham gia của người học cho thấy, việc học tập đạt kết quả tốt nhất khi người học phải tích cực tham gia trong giờ học[46]. Các phương pháp dạy và học có sự tham gia của 6 người học được khuyến khích dùng trong giáo dục kỹ năng sống bao gồm: nghiên cứu tình huống, động não, thăm thực địa, thảo luận phiên, kể chuyện, thảo luận nhóm, tranh luận, áp phích, trò chơi đóng vai, các trò chơi, dự án, biểu diễn thơ và đóng kịch. [47] Nghiên cứu của Barnet và cộng sự (1995) tiến hành tại Pakistan và Ấn Độ về giáo dục kỹ năng sống cho thấy, việc phát triển GV ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện chương trình giảng dạy. Nghiên cứu chỉ ra rằng, đào tạo GV được coi là một khoản chi phí trong quá trình thực hiện chương trình.
Kết quả cho thấy, thực tế ở nhiều trường học lựa chọn GV không được trải qua đào tạo về kỹ năng sống, hoặc đôi khi là người có kinh nghiệm hay mới chỉ đủ điều kiện để giảng dạy, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến việc giảng dạy chương trình.[45] Báo cáo của Morris và cộng sự (2013) trình bày kết quả nghiên cứu của chương trình Foundations of Learning (FOL) – Nền tảng học tập, đánh giá các can thiệp được thiết kế để đào tạo GVMG. Nhằm giúp họ có thể quản lý tốt hơn hành vi của trẻ và thúc đẩy một môi trường học tập trong lớp học tích cực hơn. Báo cáo đưa ra nhận định rằng, những kỹ năng được cải thiện có thể củng cố năng lực xã hội và tình cảm của trẻ em, đồng thời cho phép GV dành nhiều thời gian hơn cho việc giảng dạy và học tập trong lớp học. FOL đã được tiến hành thử nghiệm ở Newark, New Jersey, Chicago và Illinois thông qua hoạt động đào tạo GV và sự hỗ trợ từ các chuyên gia tư vấn nhằm củng cố kỹ năng quản lý lớp học.
Tổng cộng có 71 trung tâm GDMG (với 91 phòng học tham gia) được phân công ngẫu nhiên để thực hiện FOL hoặc tiến hành hoạt động giáo dục trẻ như bình thường. Kết quả về sự khác biệt trong thực hành lớp học và hiệu suất của trẻ giữa hai nhóm so sánh cho thấy, điều quan trọng là phải xem xét bối cảnh mà các chương trình GDMG hoạt động, đồng thời việc hỗ trợ năng lực xã hội và tình cảm của trẻ em có thể mang lại những tác động tích cực nhưng cần phải coi đó là một phần của chiến lược tổng thể tăng cường GDMG. [46] Các tác giả đưa ra một số đề xuất sau: (i) Mức độ thấp về các nguồn lực và sự hỗ trợ thể chế cũng như sự tiếp nhận của GV đối với các chiến lược mới có thể mang đến những thách thức trong quá trình thực hiện các chiến lược quản lý lớp học; (ii) Mô hình tư vấn sẽ được hưởng lợi từ việc bao gồm một kế hoạch toàn diện để giám sát và hỗ trợ các tư vấn viên cho GV; (iii) Cần có nhiều nghiên cứu hơn để hiểu các cơ chế thông qua đó tư vấn góp phần cải thiện hoạt động thực hànhcủa GV; (iv) Mặc dù một sự can thiệp như chương trình FOL có thể cải thiện kỹ năng xã hội và tình cảm của trẻ, tuy nhiên đây chỉ là một khía cạnh của chất lượng GDMG; (v) Các can thiệp tập trung vào việc tăng cường năng lực của trẻ có thể cần phải được củng cố bằng sự hỗ trợ liên tục của cấp quản lý trường MG; (vi) Việc theo dõi trẻ theo lộ trình sẽ là cơ chế tốt nhất để xác định liệu các can thiệp GDMG có hiệu quả về mặt chi phí hay không. Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, một số nghiên cứu tiêu biểu về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS và trẻ MG như sau: Trần Anh Tuấn (2012) đã phân tích thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho HS hiện nay trong nhà trường phổ thông, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Giúp học sinh thích ứng được với cuộc sống nhà trường và cuộc sống xã hội. [39] Trên cơ sở lý luận về quản lý sự phối hợp giữa giáo viên và cán bộ quản lí trong công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học, Huỳnh Lâm Anh Chương (2015) cho rằng: Đây là vấn đề cần thiết cho cán bộ quản lí, đặc biệt là hiệu trưởng nhà trường, để tham khảo và áp dụng trong quá trình quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Để đảm bảo mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thì cần có sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục, trong đó GV và cán bộ quản lí là hai lực lượng chính. Tuy nhiên, sự phối hợp này không diễn ra tự phát mà cần được tổ chức theo định hướng thống nhất, dưới tác động chủ đạo của cán bộ quản lí giáo dục.
Theo đó, tác giả đề xuất các nhóm biện pháp quản lý giáo dục kĩ năng sống, bao gồm: Nâng cao nhận thức cho GV và cán bộ quản lí về những kiến thức và kỹ năng phối hợp trong công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh; Ban hành các quy định về nhiệm vụ, quyền lợi của giáo viên và cán bộ quản lí trong công tác giáo dục kĩ năng sống; Tổ chức xây dựng kế hoạch và chương trình giáo dục kỹ năng sống cụ thể; Chỉ đạo giáo vi phối hợp với cán bộ quản lí thực hiện đúng tiến độ kế hoạch giáo dục; Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch của giáo viên và cán bộ quản lí [12]. Đối với vấn đề quản lý giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trong các trường Mẫu giáo, Công Thị Hồng Điệp (2017) tiến hành nghiên cứu khảo sát tại các trường MG quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội và đưa ra kết quả: Thực trạng công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trong các trường Mẫu giáo được đánh giá ở mức độ khá tốt. Hiện tại nhà trường đã thực hiện các nội dung quản lý giáo dục kỹ năng sống như: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường Mẫu giáo. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trong các trường Mẫu giáo được xác định bao gồm: Yếu tố thuộc về gia đình và yếu tố thuộc về môi trường; Yếu tố thuộc về cán bộ quản lí trường Mẫu giáo; Yếu tố thuộc về giáo dục Mẫu giáo.
Tác giả khẳng định để nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em trong các trường Mẫu giáo, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường: Khảo sát kĩ năng sống hiện có của trẻ em Mẫu giáo 5-6 tuổi và lập kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em; Tổ chức giáo dục kỹ năng sống theo chương trình giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mẫu giáo 5-6 tuổi phù hợp với bối cảnh hiện nay; Tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên kiến thức, kỹ năng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mẫu giáo trong trường MG; Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho trẻ MG; 8 Tổ chức tốt sự phối hợp giữa các bộ phận trong nhà trường tham gia giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em [14].