Mở đầu + Phần II: Nội dung nghiên cứu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về giáo dục kỹ năng sống đối với trẻ lớp Lá 5 – 6 tuổi. Chƣơng 2: Thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lớp Lá 5 – 6 tuổi tại các trƣờng mầm non công lập quận Thủ Đức TP.HCM Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lớp Lá 5 – 6 tuổi tại các trƣờng mầm non công lập quận Thủ Đức TP. + Phần III : Kết luận và kiến nghị Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục 7 Luan van PHẦN II – NỘI DUNG NGHÊN CỨU Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG ĐỐI VỚI TRẺ LỚP LÁ 5 – 6 TUỔI 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1.
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Năm 1989, Bộ Lao động Mỹ cũng đã thành lập một Ủy ban Thƣ ký về Rèn luyện các Kỹ năng Cần thiết (The Secretary’s Commission on Achieving Necessary Skills - SCANS). Thành viên của ủy ban này đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ giáo dục, kinh doanh, doanh nhân, ngƣời lao động, công chức… nhằm mục đích “thúc đẩy nền kinh tế bằng nguồn lao động kỹ năng cao và công việc thu nhập cao”. Cũng trong khoảng thời gian này, tại Úc, Hội đồng Kinh doanh Úc (The Business Council of Australia - BCA) và Phòng thƣơng mại và công nghiệp Úc (the Australian Chamber of Commerce and Industry - ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học (the Department of Education, Science and Training - DEST) và Hội đồng giáo dục quốc gia Úc (the Australian National Training Authority - ANTA) đã xuất bản cuốn “Kỹ năng hành nghề cho tƣơng lai” (năm 2002). Cuốn sách cho thấy các kỹ năng và kiến thức mà ngƣời sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc phải có.
Kỹ năng hành nghề (employability skills) là các kỹ năng cần thiết không chỉ để có đƣợc việc làm mà còn để tiến bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hƣớng chiến lƣợc của tổ chức. Những năm đầu thập niên 90, một số nƣớc Châu Á nhƣ: Ấn Độ, Lào, Campuchia, Indonexia, Malaysia, Thái Lan,… cũng đã nghiên cứu và triển khai chƣơng trình dạy kỹ năng sống ở các bậc học phổ thông từ Mầm non cho đến Trung học phổ thông. Những nội dung giáo dục chủ yếu ở hầu hết các nƣớc này đó là trang bị cho ngƣời trẻ tuổi những kỹ năng sống cần thiết để giúp họ thích nghi dần 8 Luan van với cuộc sống sau này, mục đích chính là dạy – trang bị và hình thành. Mục tiêu chung của giáo dục kỹ năng sống đƣợc xác định là: “Nhằm nâng cao tiềm năng của con ngƣời để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hằng ngày, đồng thời tạo ra sự đổi thay và nâng cao chất lƣợng cuộc sống”.
Với mục đích nhắm đến yếu tố cá nhân của ngƣời học, các nƣớc cũng đã đƣa ra cách thiết kế chƣơng trình giáo dục và trang bị kỹ năng sống nhƣ: lồng ghép vào chƣơng trình dạy chữ, học vấn, vào tất cả các môn học và các chƣơng trình ở những mức độ khác nhau. Dạy các chuyên đề cần thiết cho ngƣời học nhƣ: kỹ năng nghề, kỹ năng hƣớng nghiệp,… và đƣợc chia làm ba nhóm chính là: Kỹ năng cơ bản (gồm các kỹ năng đọc, viết, ghi chép,…), nhóm kỹ năng chung (gồm các kỹ năng tƣ duy phê phán, tƣ duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề,…) và nhóm kỹ năng cụ thể (gồm các kỹ năng bình đẳng giới, bảo vệ sức khỏe, nâng cao đời sống tinh thần, … [2, tr. 43] Giáo dục kỹ năng sống ở Campuchia đƣợc xem xét dƣới góc độ năng lực sống của con ngƣời, kỹ năng làm việc vì vậy giáo dục kỹ năng sống đƣợc triển khai theo hƣớng là giáo dục các kỹ năng cơ bản cho con ngƣời trong cuộc sống hàng ngày. Giáo dục kỹ năng sống ở Malaysia đƣợc xem xét và nghiên cứu dƣới ba góc độ: Các kỹ năng thao tác bằng tay, kỹ năng thƣơng mại và đấu thầu, kỹ năng sống trong đời sống gia đình.
44] Ở Bangladesh: Giáo dục kỹ năng sống đƣợc khai thác dƣới góc độ các kỹ năng hoạt động xã hội, kỹ năng phát triển, kỹ năng chuẩn bị cho tƣơng lai. Ở Ấn Độ: Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đƣợc xem xét dƣới góc độ giúp cho con ngƣời sống một cách lành mạnh về thể chất và tinh thần, nhằm phát triển năng lực con ngƣời. Các kỹ năng sống đƣợc khai thác giáo dục là các kỹ năng: Giải quyết vấn đề, tƣ duy phê phán, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự chăm sóc bản thân,…[ 2, tr.45] Tóm lại, dù xuất phát từ quan điểm chung về kỹ năng sống từ WHO (Tổ chức Y tế thế giới) hay UNESCO (Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc), nhƣng ở mỗi quốc gia trên thế giới đều có sự khác biệt về quan niệm và 9 Luan van nội dung, có nƣớc thực hiện theo đúng chuẩn kỹ năng nhƣng cũng có nƣớc mở rộng thêm chứ không chỉ bao hàm kỹ năng sống là những khả năng về tâm lý, xã hội. Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ cụ thể, các nhà nghiên cứu kỹ năng ở các lĩnh vực hoạt động khác nhau nhƣ kỹ năng lao động gắn với những tên tuổi các nhà tâm lý - giáo dục nhƣ V.
Kỹ năng sống có chủ yếu trong các chƣơng trình hành động của UNESCO, WHO, UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc) cũng nhƣ trong các chƣơng trình hành động của các tổ chức xã hội trong và ngoài nƣớc… Ở hƣớng nghiên cứu này, các tác giả chủ yếu xây dựng hệ thống các kỹ năng của từng loại hoạt động, mô tả chân dung các kỹ năng cụ thể và các điều kiện, quy trình hình thành và phát triển hệ thống các kỹ năng đó. Kỹ năng sống đƣợc lồng ghép ở các giáo dục chính quy (giáo dục trong chƣơng trình đào tạo) và cả giáo dục không chính quy (hoạt động ngoại khóa – hoạt động ngoài giờ lên lớp). Những quan niệm, nội dung giáo dục kỹ năng sống đƣợc triển khai vừa thể hiện nét chung vừa thể hiện nét đặc thù, những nét riêng của từng quốc gia. Nhìn chung, các quốc gia cũng đã triển khai chƣơng trình và biện pháp giáo dục kỹ năng sống nhƣng chƣa thật toàn diện và sâu sắc, vì chƣa có quốc gia nào đƣa ra đƣợc kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí.
Các công trình nghiên cứu ở trong nước Tại Việt Nam đầu những năm 90, Thủ tƣớng chính phủ cũng đã có văn bản chỉ đạo tại Quyết định 1363/TTg về việc “Đƣa nội dung giáo dục môi trƣờng vào hệ thống giáo dục quốc dân”, tuy quyết định này chƣa thấy rõ về việc phải rèn luyện kỹ năng sống ở các bậc học, tuy nhiên nội dung của quyết định cũng đã có đề cập đến việc trang bị cho ngƣời học những vấn đề về văn hóa ứng xử, về thái độ sống,. Cuối cùng, khái niệm kỹ năng sống thực sự đƣợc hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng sau hội thảo “Chất lƣợng giáo dục và kỹ năng sống” do UNESCO tài trợ vào năm 2003. Và chính từ đây ngành giáo dục đã bắt đầu quan tâm đến kỹ năng sống và cách thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Vì đến độ tuổi này trẻ đã hình thành cho mình phần lớn các giá trị, trừ phi có sự thay đổi sâu sắc về trải nghiệm trong đời, nếu không thì khó mà lĩnh hội thêm giá trị sau độ tuổi này.
Trẻ từ dƣới 10 Luan van hai tuổi đã bắt đầu tiếp thu từ môi trƣờng sống xung quanh, nhƣ giọng nói của ngƣời lớn khi trò chuyện với trẻ, cách thức tiếp xúc với trẻ, tất cả đều tác động đến sự phát triển của trẻ. Vì vậy, việc hình thành và phát triển kỹ năng sống cần đƣợc tiến hành từ bậc học mầm non. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh không chỉ là nhiệm vụ của nhà trƣờng mà còn ở bố mẹ, ngƣời thân. Làm sao để các em lớn lên trở thành ngƣời tự lập, tự chủ trong mọi tình huống.
Đó là cái đích mà ngƣời lớn chúng ta hƣớng tới. Muốn vậy phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các môi trƣờng giáo dục mà gia đình, nhà trƣờng và xã hội phải giữ thế vững chắc của “kiềng ba chân”. Và giáo dục kỹ năng sống không phải là cái gì cao siêu xa vời. Hãy bắt đầu cho các em làm quen với cuộc sống từ những việc nhỏ nhất hàng ngày.
Đó là những kỹ năng đơn giản nhất mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp với đời sống và giai cấp của xã hội ở những thời điểm khác nhau. 70] Thuật ngữ “Kỹ năng sống” bắt đầu đƣợc quan tâm tại Việt Nam vào những năm đầu thập niên 90. Khi xã hội bắt đầu có những chuyển biến phức tạp do tác động của nền kinh tế thị trƣờng cũng nhƣ việc du nhập các nền văn hóa từ các nƣớc bên ngoài vào Việt Nam hay do sự biến đổi của môi trƣờng tự nhiên đã tác động rất lớn đến con ngƣời. Vì lẽ đó đòi hỏi mỗi ngƣời phải học cách thích nghi với những sự thay đổi đó, từ đây những kỹ năng khác ngoài trình độ học vấn, tƣ cách đạo đức, năng lực làm việc bắt đầu đƣợc xem xét và quan tâm.
Đó chính là điều kiện để giáo dục Việt Nam quan tâm đến thuật ngữ kỹ năng sống trong chƣơng trình và triển khai một số dự án của các tổ chức khác trên thế giới. Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, một số bộ Luật của Nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi cũng đã có những định hƣớng và điều khoản liên quan đến việc trang bị kỹ năng sống cho học sinh nhƣ: Luật chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 hay Luật giáo dục năm 2005. Mặt khác, Giáo dục Việt Nam bắt đầu quan tâm đến nhiều vấn đề liên quan đến ngƣời học – đặc biệt là vấn đề phát triển toàn diện cho ngƣời học nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội và của nền kinh tế tri thức. 11 Luan van Từ năm 2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông qua dự án “Giáo dục sống khoẻ mạnh, kỹ năng sống cho trẻ và vị thành niên” với sáng kiến và hỗ trợ của UNICEF tại Việt Nam.
Tham gia dự án có học sinh Trung học cơ sở và trẻ em ngoài trƣờng học ở một số tỉnh thuộc nhiều khu vực nhƣ: Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Gia Lai, Kon Tum, TP.