CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ 3-4 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới: Ở độ tuổi MN, trẻ học hỏi rất nhanh và thường hiếu động với mọi thứ xung quanh. Trẻ có khao khát được thể hiện mình, được làm những việc giống như người lớn.
Nhiều nghiên cứu của các nhà giáo dục, nhà tâm lý đã chỉ ra cần giáo dục KNS nói chung và KNTPV nói riêng cho trẻ từ ngay độ tuổi MN, đây là thời điểm vàng, giáo dục sớm để hình thành những thói quen và lối sống tốt đẹp cho trẻ. Khi nghiên cứu KN ở mức độ cụ thể, các nhà khoa học đã nghiên cứu KN ở các lĩnh vực hoạt động khác nhau như KN lao động gắn với những tên tuổi các nhà tâm lý - giáo dục như V.Tseburseva, kỹ năng học tập gắn với G.Menchinxcaia, KN hoạt động sư phạm gắn với tên tuổi X.Theo UNESCO (Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc), WHO (Tổ chức y tế thế giới), UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên hiệp Quốc) đã xây dựng hệ thống các KN của từng loại hoạt động, mô tả chân dung các KN cụ thể và các điều kiện, quy trình hình thành và phát triển hệ thống các kỹ năng đó. Vào những năm đầu thập niên 90, một số nước Châu Á như: Ấn Độ, Lào, Campuchia, Indonexia, Malaysia, Thái Lan,… đã nghiên cứu và triển khai chương trình dạy KNS ở các bậc học phổ thông từ MN cho đến Trung học phổ thông, nội dung giáo dục chủ yếu ở hầu hết các nước này đó là trang bị cho người trẻ tuổi những KNS cần thiết để giúp họ thích nghi dần với cuộc sống sau này, mục đích chính là dạy – trang bị và hình thành. Mục tiêu chung của giáo dục KNS được xác định là: “Nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày, đồng thời tạo ra sự đổi thay và nâng cao chất lượng cuộc sống”.
Với mục đích nhắm đến yếu tố cá nhân của người học, các 7 nước cũng đã đưa ra cách thiết kế chương trình giáo dục và trang bị KNS như: lồng ghép vào chương trình dạy chữ, học vấn, vào tất cả các môn học và các chương trình ở những mức độ khác nhau. Dạy các chuyên đề cần thiết cho người học như: KN nghề, KN hướng nghiệp,… và được chia làm ba nhóm chính là: KN cơ bản (gồm các KN đọc, viết, ghi chép,…), nhóm KN chung (gồm các KN tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề,…) và nhóm KN cụ thể (gồm các KN bình đẳng giới, bảo vệ sức khỏe, nâng cao đời sống tinh thần,… Ở hướng nghiên cứu này, các tác giả chủ yếu xây dựng hệ thống các KN của từng loại hoạt động, mô tả chân dung các KN cụ thể và các điều kiện, quy trình hình thành và phát triển hệ thống các KN đó theo các độ tuổi trong quá trình giáo dục. Giáo dục KNTPV cho trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo là một trong những vấn đề đã được các nhà tâm lý, nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu. Mặc dù có khác nhau về các biện pháp, phương pháp khác nhau từ các góc độ nghiên cứu song họ đều cho rằng chính hai mặt năng lực và phẩm chất là hai mặt then chốt mà giáo dục cần tác động đến nhằm tạo ra những con người toàn diện.
Maria Montessori (1870-1952) nhà giáo dục Ý cũng đánh giá cao quyền tự do của trẻ. Theo bà chỉ có tự do trẻ mới có thể tự mình làm những công việc của mình. Người lớn trao cho trẻ sự tự do, để chúng được học tập, vươn lên bằng chính những cố gắng của bản thân, đây chính là điểm xuất phát và mục đích đích thực của hoạt động giáo dục trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo. Theo bà, chính trẻ em mới là người tự nhào nặn, khám phá bản thân và có khả năng tự thực hiện mọi hành động, vai trò người sáng tạo thuộc về trẻ chứ không nhờ vào một ai khác.
Chỉ có như thế thì trẻ mới phát triển đúng khả năng, bộc lộ hết tiềm năng của mình. Vì vậy con người muốn được tự do, tự thể hiện mình trong mọi hoạt động thì cần phải có KNTPV bản thân. Tất cả những biện pháp giáo dục của bà đều hướng tới việc giáo dục và rèn luyện KNTPV ở trẻ nhất là những trẻ nhỏ ở lứa tuổi mẫu giáo (Mooney , 2016) 8 Tác giả K. Usinxki người sáng lập khoa học giáo dục Nga, trong công trình nghiên cứu của mình ông đã chứng minh rằng “sự phát triển của trẻ em là kết quả lao động của bản thân trẻ của hoạt động nhận thức và trí tuệ của trẻ” (Nguyễn Thùy Duyên, 2019) Mức độ thể hiện KNTPV ở trẻ phụ thuộc vào việc tham gia vào hoạt động lao động trong môi trường xung quanh của trẻ.
Để trẻ yêu thích lao động, thì cần phải giúp trẻ tiếp cận với lao động, Tác giả Nhechaeva lại đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa của việc giáo dục, rèn luyện thói quen lao động tự phục vụ đối với sự hình thành nhân cách trẻ mẫu giáo. Tác giả cho rằng cần phải giáo dục KNTPV cho trẻ ngay từ lứa tuổi mẫu giáo để trẻ có nhu cầu thực hiện hành động tự phục vụ một cách tự giác. Cũng theo tác giả, để hình thành được những kỹ năng kỹ xảo, thói quen lao động, KNTPV cho trẻ thì công tác rèn luyện cần phải tiến hành thường xuyên, tỉ mỉ theo từng bước cụ thể trong một thời gian liên tục. Nhechaeva cũng đề xuất một số phương pháp như: Làm mẫu từng thao tác, giải thích bằng lời, nêu gương, tập luyện hàng ngày, sử dụng trò chơi, sử dụng trực quan, để dạy trẻ trong giờ học, trong lao động, trong sinh hoạt hàng ngày.
Theo tác giả GV phải củng cố thói quen cho trẻ bằng cách nhắc nhở thường xuyên và bằng sự rèn luyện hàng ngày của trẻ (Nhechaeva, 1979). Đêmôcrít (460-370 TCN), nhà triết học duy vật kiệt xuất nhất của Hi Lạp thời cổ “coi trọng giáo dục lao động và là người đầu tiên đưa ra nguyên tắc kết hợp giáo dục với lao động và cuộc sống sinh hoạt của trẻ”. Giáo dục lao động là một nội dung quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện, thông qua lao động những phẩm chất của người lao động mới được hình thành ở trẻ: yêu lao động, quý trọng người lao động, giúp trẻ nắm được các KN lao động đơn giản phục vụ cho sinh hoạt và tạo tâm thế cho trẻ tham gia vào hoạt đông lao động sau này. Trong nhiều tác phẩm của mình, tác giả I.
Peecnicôva đã đề cập đến việc giáo dục lao động tự phục vụ đối với sự hình thành phẩm chất đạo đức của trẻ em. Theo ông: “Phẩm chất đạo đức hình thành ở trẻ em trước hết là trong quá trình lao động. Phẩm 9 chất ấy thể hiện ở sự ham thích và thói quen lao động phục vụ bản thân, gia đình, nhà trường…”. Ông cho rằng nên cho trẻ em làm việc dễ dàng nhưng có ích từ khi các em còn nhỏ.
Việc thực hiện các KNTPV như tự rửa tay, rửa mặt, đánh răng, chải tóc. là những công việc dễ dàng vừa sức trẻ mà vô cùng có ích đối với trẻ. Dựa trên quan điểm: “Kiên quyết yêu cầu phải để trẻ em tự phục vụ từ khi còn nhỏ, nếu không các em sẽ phát triển thói ăn bám xấu xa” của Crupxkaia, tác giả cho rằng: “Con cái chúng ta phải hưởng tuổi thơ hạnh phúc, nhưng tuyệt nhiên không có nghĩa là tuổi thơ ấy phải nhàn rỗi. Trẻ em sẽ không thấy hạnh phúc khi bố mẹ cứ phục vụ các em mãi như cậu ấm cô chiêu”.
Đồng thời tác giả đưa ra nguyên tắc vô cùng đơn giản và quan trọng để rèn cho trẻ thói quen vệ sinh sạch sẽ đó là: “Không làm thay con cái những việc mà các em có thể tự làm được, ngay cả với những trẻ bé nhất, tùy theo khả năng, trẻ em phải tự ăn uống, rửa mặt đánh răng…” (I. Như vậy, mặc dù có khác nhau về biện pháp, khác nhau từ các góc độ nghiên cứu song họ đều cho rằng chính hai mặt năng lực và phẩm chất là hai vấn đề then chốt mà giáo dục cần tác động đến nhằm rèn luyện kỹ năng phát triển cho trẻ, người lớn phải tạo điều kiện cho trẻ tự thực hiện những nhiệm vụ vừa sức và phù hợp với trẻ. Theo họ, hệ lụy của việc thiếu KNTPV sẽ dẫn đến trẻ lười biếng, thụ động và khó khăn khi tham gia vào các hoạt động tập thể, cần giáo dục trẻ KNTPV ngay khi trẻ được một tuổi rưỡi, giúp trẻ tăng cường tính độc lập và cảm giác về sự thành công, trở thành những con người toàn diện. Lịch sử nghiên cứu tại Việt Nam Đối với bậc học MN, Việt Nam đã thực hiện đổi mới chương trình GDMN, với mục tiêu là hướng đến giáo dục KNS tích hợp với các hoạt động giáo dục trong nhà trường.
Đối với giáo dục lao động tự phục vụ, hình thành KN, thói quen tự chăm sóc bản thân cho trẻ MN đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm khai thác như: Tác giả Huỳnh Văn Sơn với tác phẩm “Nhập môn kỹ năng sống” với các nội dung cơ bản: những vấn đề chung về kỹ năng sống và một số KNS cơ bản,… (Huỳnh Văn Sơn, 2009). 10 Tác giả Nguyễn Thanh Huyền trong luận án tiến sĩ của mình cũng nghiên cứu các biện pháp giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt tại trường MN. Tác giả cho rằng chế độ sinh hoạt ở trường MN là sự phân chia các hoạt động của trẻ trong một ngày với những yêu cầu cụ thể là điều kiện cơ bản giáo dục tính tự lực cho trẻ. Tác giả đã đề xuất những biện pháp giáo dục như là: tổ chức, hướng dẫn trẻ thực hiện chế độ sinh hoạt tại trường MN; sử dụng kết hợp biện pháp đọc và kể chuyện nhằm phát triển nhận thức, thái độ và phẩm chất tự lực cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua các hoạt động trong chế độ sinh hoạt tại trường MN; hướng dẫn và rèn luyện KN tự đánh giá, kiểm tra thông qua các hoạt động trong chế độ sinh hoạt tại trường MN; hướng dẫn trẻ rèn luyện KN tự tổ chức thực hiện các hoạt động thông qua hoạt động tự lực trong chế độ sinh hoạt tại trường MN (Nguyễn Thanh Huyền, 2004).
Tác giả Mai Hiền Lê đã nghiên cứu về những KNS cần thiết cho trẻ lớp mẫu giáo lớn.