Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH MỘT SỐ KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.Các công trình nghiên cứu trên thế giới Vấn đề giáo dục kĩ năng sống là một vấn đề mới ở Việt Nam, tuy nhiên đây là vấn đề được rất nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Khái quát các công trình nghiên cứu như sau: Theo UNESCO: các nghiên cứu đã xác định mục tiêu, chương trình và hình thức của giáo dục kĩ năng sống.Trong đó thuật ngữ “giáo dục kĩ năng sống” xuất hiện trước tiên trong chương trình “giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ. Những nghiên cứu trong giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm về KNS cũng như đưa ra được một bảng danh mục các KNS cơ bản mà thế hệ trẻ cần có.
Phần lớn các công trình nghiên cứu về KNS ở giai đoạn này quan niệm về KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kỹ năng xã hội.[2] Mặc dù cũng xuất phất từ quan niệm chung về KNS của tổ chức y tế thế giới hoặc của UNESCO nhưng quan niệm và nội dung giáo dục KNS ở các nước không giống nhau và nội hàm của giáo dục KNS được mở rộng hơn nội hàm chỉ khả năng tâm lí, xã hội. Tại Hội thảo Bali: các nhà giáo dục đã xác định mục tiêu của giáo dục KNS trong giáo dục không chính quy của các nước Châu Á thái Bình Duơng là nhằm nâng cao tiềm lực của con người để có hành vi tích cực đáp ứng nhu cầu sự thay đổi các tình huống của cuộc sống hàng ngày, đồng thời nâng cao chất lượng của cuộc sống.[13] 6 Tổ chức WHO: cũng đưa ra một số chương trình về giáo dục kĩ năng và kèm theo các bài viết như “Life skills for children and adolescents in schools” (giáo dục KNS cho trẻ em và thanh thiếu niên ở trường học) Các công trình nghiên cứu đã đưa ra lý luận khái quát về KNS và hướng dẫn thực hiện chương trình, cùng với đó là các khái niệm về GDKNS cách phân loại KNS. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam a. Hướng nghiên cứu về kĩ năng sống Chương trình “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV - AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” của UNICEF(1996) đã đưa ra thuật ngữ KNS ở Việt Nam.
Một trong những người đẩu tiên và là người nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam là Nguyễn Thanh Bình. Với một loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứư khoa học cấp Bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo, tác giả Nguyễn Thanh Bình đã góp phần đáng kể vào việc tạo ra những hướng nghiên cứu về KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam cụ thể là: Xác định những vấn đề lí luận cốt lõi về KNS và giáo dục KNS. Trong cuốn “Chuyên đề giáo dục KNS” theo tác giả Nguyễn Thanh Bình thì giáo dục học Việt Nam đã hình thành, phát triển và đạt được kết quả nhất định trong đó đã đề cập đến tầm quan trọng của giáo dục KNS, đồng thời cũng định hướng mục tiêu phải tổ chức GDKNS cho các em theo tinh thần xã hội hoá.[2] Bên cạnh đó đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề KNS trong nhà trường nói riêng như đề tài: “KNS cho tuổi vị thành niên” của tác giả Nguyễn Thị Oanh. Lí luận về KNS được nhiều tác giả đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của mình ở từng chuyên ngành, bên cạnh đó các công trình nghiên cứu cũng nhấn mạnh vai trò của hoạt động vui chơi và hoạt động nghệ thuật đối với sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ 5 - 6 tuổi.
Tác giả Nguyễn Thị Hòa trong cuốn “giáo trình giáo dục học mầm non” đã nghiên cứu các hoạt động giáo dục được tổ chức ở trường mầm non, trong đó chỉ ra vai trò quan trọng của hoạt động vui chơi với việc phát triển 7 các kĩ năng cho trẻ khi tham gia vào trò chơi như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng vận động, kĩ năng nhận thức,…Tác giả cũng đưa ra lý luận chung về hoạt động lễ hội được tổ chức ở trường mầm non.[6] Tác giả Nguyễn Thanh Thúy trong luận văn Thạc sĩ giáo dục học “giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua hoạt động vui chơi” (Luận văn Thạc sĩ năm 2010) cũng đã nêu được một số nội dung giáo dục kĩ năng sống cho trẻ qua hoạt động vui chơi nhưng mới chỉ dừng lại ở việc đề ra được một số trò chơi để phát triển kĩ năng sống, mặt khác về lí luận, tác giả cũng chưa nêu bật được ý nghĩa của giáo dục KNS cho lứa tuổi mẫu giáo 5 – 6 tuổi. Hướng nghiên cứu về hoạt động lễ hội cho trẻ em Về nội dung hoạt động lễ hội: hầu như chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu nào đề cập đến vấn đề tổ chức hoạt động lễ hội cho trẻ ở trường mầm non. Tác giả Hoàng Văn Yến với công trình nghiên cứu “Kịch bản lễ hội ở trường mầm non” đã khái quát mục đích yêu cầu của việc tổ chức hoạt động lễ hội và liệt kê 7 ngày lễ ngày hội trong chương trình giáo dục mầm non. Cùng với công trình nghiên cứu của mình tác giả cũng đã đưa ra kịch bản lễ hội ở trường Mầm Non, tuy nhiên nội dung của các kịch bản chưa phong phú, chủ yếu mới chỉ dừng lại ở một số tiết mục múa và hát cho trẻ.
Tác giả cũng chưa nêu bật được vai trò giáo dục nhân cách của việc cho trẻ tham gia vào quá trình tổ chức các hoạt động lễ hội.[31] Như vậy, qua tổng hợp, phân tích tổng quan các công trình nghiên cứu về giáo dục KNS ở trong nước có thể đưa ra nhận định: Đã có rất nhiều các công trình trên thế giới và ở Việt Nam nghiên cứu về giáo dục kĩ năng sống. Chủ yếu các đề tài mới chỉ tập trung phân tích làm rõ thực trạng và tính cấp bách của vấn đề KNS, chưa giải quyết được nhiệm vụ nghiên cứu lí luận một cách có hệ thống và phương pháp, hình thức giáo dục KNS cho học sinh nói chung và trẻ mầm non nói riêng. Các đề tài đã đề cập đến những hình thức giáo dục KNS cụ thể và chưa có kết quả thử nghiệm 8 rõ ràng, nên tính thuyết phục chưa cao. Các công trình nghiên cứu đã phân tích tương đối đầy đủ các nhiệm vụ: nghiên cứu lí luận, đánh giá thực trạng và đề xuất các biện pháp giáo dục KNS, nhưng đối tượng chủ yếu của các nghiên cứu là sinh viên và học sinh ở các cấp học.
Vì vậy, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động lễ hội ở trường mầm non làm hướng nghiên cứu của mình. Cơ sở lí luận về kĩ năng sống 1. Khái niệm “Giáo dục kĩ năng sống” a. Khái niệm “kĩ năng” Kĩ năng là một vấn đề phức tạp.
Vì vậy, cho đến nay trong tâm lý học và lí luận dạy học, các tác giả nghiên cứu trong và ngoài nước đều đã đưa ra các quan điểm khác nhau về kĩ năng. Tổng kết lại, có thể thấy có hai quan điểm về kĩ năng như sau: Quan điểm thứ nhất: Xem xét kĩ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của thao tác hay hành động hoạt động. Đại diện cho quan điểm này có các tác giả: V.Côvaliôp, Trần Trọng Thuỷ, Hà Nhật Thăng. Quan điểm thứ hai: xem xét kĩ năng nghiêng về mặt năng lực của chủ thể hoạt động.
Theo quan niệm này, kĩ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt, tính sáng tạo và tính mục đích. Đại diện cho quan điểm này có các tác giả: K.Golubev, Paul Hersey, Ken Blanc Hard, P.Ruđich, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc. Hai quan điểm trên, về hình thức diễn đạt tuy có vẻ khác nhau nhưng thực chất chúng không mâu thuẫn hay loại trừ lẫn nhau. Sự khác nhau là ở chỗ mở rộng hay thu hẹp phạm vi triển khai của một kỹ năng hành động trong các tình huống khác nhau.
Dù theo quan điểm nào thì khi nói đến kỹ năng, hầu hết các tác giả đều xác định như sau: Mọi kĩ năng đều phải dựa trên cơ sở của tri thức: muốn thao tác trước hết phải có hiểu biết về nó. Khi nói tới kĩ năng của con người là nói tới hành 9 động có mục đích, tức là khi hành động, thao tác con người luôn hình dung kết quả đạt tới. Con người để có được kĩ năng thì cần phải biết cách thực hiện hành động trong những điều kiện cụ thể và hành động theo quy trình với sự tập luyện nhất định. Kỹ năng liên quan mật thiết đến năng lực của con người, nó được xem là biểu hiện cụ thể của năng lực.
Như vậy có thể hiểu: kĩ năng là khả năng của con người thực hiện một cách có hiệu quả một hành động, công việc nào đó để đạt được mục đích đã xác định trên cơ sở nắm vững phương thức thực hiện và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có phù hợp với những điều kiện nhất định, kĩ năng được hình thành trong suốt cuộc đời. Khái niệm “kĩ năng sống” Cho đến nay đã có nhiều khái niệm về KNS được đưa ra: Theo như định nghĩa của tổ chức y tế thế giới WHO (trong đề tài nghiên cứu về kĩ năng sống cho thiếu nhi và thanh thiếu niên trong trường học. 1997) “Kĩ năng sống là những khả năng thích nghi và ứng xử tích cực giúp các cá nhân giải quyết những yêu cầu và thách thức trong cuộc sống hàng ngày”. Theo quỹ hỗ trợ Nhi đồng LHQ (UNICEF): “KNS là cách tiếp nhận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới.
Tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng” [2, 6].Theo Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hoá LHQ (UNESCO): “KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI: Học để biết - Học để làm - Học để chung sống - Học để làm người. Theo đó KNS được định nghĩa là những năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày”.