Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động làm quen với chữ cái cho trẻ 5-6 tuổi chuẩn bị tâm thế vào lớp 1 ở các trường mầm non xã huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động làm quen với chữ cái cho trẻ 5 5- 6 tuổi chuẩn bị tâm thế vào lớp 1 ở các trường mầm non huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình. Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động làm quen với chữ cái cho trẻ 5- 6 tuổi chuẩn bị tâm thế vào lớp 1 ở các trường mầm non huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI CHỮ CÁI CHO TRẺ 5- 6 TUỔI CHUẨN BỊ TÂM THỂ VÀO LỚP 1 Ở CÁC TRƢỜNG MẦM NON HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Tác giả Puckett (2009) có nhấn mạnh, trẻ có thể học đọc hiệu quả qua các hoạt động mà trẻ yêu thích như chơi với con chữ, trẻ tìm các biểu hiện của từ, ngữ.Christie (2013) chỉ rõ: trẻ vẽ, viết nguệch ngoạc và đọc các dấu hiệu đó bằng cách gắn chúng những ý qua trò chơi và hành động. Tác giả Leigh Rohde (2015) cho rằng Các kỹ năng ban đầu của Đọc viết mới nổi bao gồm kiến thức và khả năng liên quan đến bảng chữ cái và nhận thức âm vị học. Các kỹ năng đọc viết sớm rất có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo trẻ em đạt được tất cả các kỹ năng sơ bộ. Cơ hội học đọc, biết viết sớm có nhiều khả năng hơn xảy ra khi GV có hiểu biết kiến thức vững chắc về khả năng đọc viết nổi bật và sự phát triển của trẻ.
Ở Việt Nam, có một số nghiên cứu nổi bật sau: Tác giả Hoàng Thị Oanh “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi, nội dung chuẩn bị cho trẻ tập đọc, tập viết” cùng các cộng sự (2000) có nêu: Nhận biết 29 chữ cái, nhớ được tên âm chữ cái, Dạy trẻ làm quen với tư thế ngồi và cách cầm bút viết khi tập tô chữ cái - là những nội dung quan trọng trong chuẩn bị sẵn sàng cho trẻ lên lớp1. Tác giả Nguyễn Thị Cẩm Bích và đồng nghiệp (2019) có biên soạn lại các hoạt động hỗ trợ trẻ làm quen với đọc viết từ Save Children thành tài liệu Bộ công cụ hỗ trợ trẻ mầm non làm quen với đọc viết và toán (Cuốn số 4: Thẻ hoạt động cho giáo viên), NXBGD. Tài liệu đã cung cấp một số hoạt động về 7 tiền đọc viết và toán cho trẻ mầm non. Có thể thấy, hoạt động làm quen với chữ cái (LQVCC) đã có nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều nội dung và lĩnh vực đa dạng nhằm chuẩn bị sãn sàng tâm thế cho trẻ vào lớp 1.
Quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm. Đây là một phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia và mọi thời đại. Quản lý chứa đựng nội dung lớn, đa dạng phức tạp và luôn vận động, biến đổi, phát triển. Vì vậy, khi nhận thức về quản lý, khái niệm quản lý có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau, được nhiều nhà khoa học đưa ra các quan niệm khác nhau.
Do đó trong luận văn này, tác giả chỉ tổng hợp lại một số khái niệm tiêu biểu làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu.F Aunapu (1976) dưới góc độ về hệ thống thì “quản lý hệ thống xã hội là một khoa học, nghệ thuật tác động vào hệ thống mà chủ yếu là những con đường trong hệ thống đó nhằm đạt được những mục tiêu quản lý mà trong đó mục tiêu kinh tế- xã hội là cơ bản” Theo F. Theo tác giả Vũ Dũng & Nguyễn Thị Mai Lan (2013) thì cho rằng “Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” [5]. Còn theo tác giả Trần Quốc Thành (2012) thì “Quản lý là một quá trình 8 định hướng, quá trình có mục tiêu; quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [14]. Trong cuốn Quản lí giáo dục do Bùi Minh Hiền chủ biên, tác giả đưa ra định nghĩa: “Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí nhằm đạt mục tiêu đề ra”.
Tóm lại, có nhiều khái niệm khác nhau, nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý, mỗi khái niệm nhấn mạnh các mặt khác nhau nhưng đều có điểm chung thống nhất là xác định quản lý là hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu xác định. Nói một cách khái quát có thể hiểu: Quản lý là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu, ý chí của người quản lý đề ra. Quản lý giáo dục Để tồn tại và phát triển, con người phải trải qua quá trình lao động trong cuộc sống. Trong lao động và trong cuộc sống hàng ngày, con người nhận thức thế giới xung quanh và dần dần tích luỹ được những kinh nghiệm sống, từ đó nảy sinh các nhu cầu truyền đạt những hiểu biết ấy cho nhau.
Đó chính là nguồn gốc phát sinh của hiện tượng giáo dục. Thời kỳ sơ khai, giáo dục xuất hiện như một hiện tượng tự phát, sau đó trở thành một hoạt động có ý thức. Đến ngày nay, giáo dục đã trở thành một hoạt động được tổ chức đặc biệt, đạt tới trình độ cao, có chương trình kế hoạch, có nội dung, phương pháp hiện đại và trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của xã hội loài người. Như vậy, giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó xã hội loài người không ngừng tiến lên.
9 Nhà nước quản lý mọi hoạt động của xã hội, trong đó có hoạt động giáo dục. Nhà nước quản lý giáo dục (QLGD) thông qua tập hợp các tác động hợp quy luật được thể chế hoá bằng pháp luật của chủ thể quản lý, nhằm tác động đến các phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ. Đã có nhiều nhà nghiên cứu và quản lý thực tiễn đưa ra các khái niệm khác nhau về QLGD.V Khudomixki (1997), “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ”. Konzacov thì “QLGD là tập hợp các biện pháp kế hoạch nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng”.
Tại Việt Nam, theo các nhà nghiên cứu cũng như các nhà quản lý thực tiễn thì quản lý giáo dục được hiểu là việc thực hiện đầy đủ các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo kiểm tra trên toàn bộ các hoạt động giáo dục. Theo Nguyễn Ngọc Quang (1998) cho rằng: “Quản lý là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [11]. Theo Phạm Minh Hạc (2007): “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo 10 đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh…” [6]. Theo tác giả Trần Kiểm (2011) thì “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác của chủ thể quản lý đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục trong nhà trường” [9].
Qua những quan niệm trên chúng ta có thể đi đến khái niệm QLGD cụ thể sau: Quản lý giáo dục là hoạt động tác động, điều hành, phối hợp của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt được mục tiêu đề ra một cách có hiệu quả nhất. Quản lý giáo dục mầm non Quản lý trường mầm non là công việc không hề đơn giản, công việc này đòi hỏi người quản lý trang bị cho mình nhiều kỹ năng cần thiết, không chỉ riêng việc phải luôn sẵn sàng xử lý các tình huống rắc rối trong mọi sinh hoạt của trẻ nhỏ. Theo đó, việc giáo dục mầm non còn cần phải bảo đảm yêu cầu về nội dung, phương pháp theo quy định tại Điều 24 Luật Giáo dục 2019 như sau: - Nội dung giáo dục mầm non phải bảo đảm phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em; hài hòa giữa bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng với giáo dục trẻ em; phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội, trí tuệ, thẩm mỹ; tôn trọng sự khác biệt; phù hợp với các độ tuổi và liên thông với giáo dục tiểu học. - Phương pháp giáo dục mầm non được quy định như sau: + Giáo dục nhà trẻ phải tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em được tích cực hoạt động, vui chơi, tạo sự gắn bó giữa người lớn với trẻ em; kích thích sự phát triển các giác quan, cảm xúc và các chức năng tâm sinh lý; 11 + Giáo dục mẫu giáo phải tạo điều kiện cho trẻ em được vui chơi, trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh bằng nhiều hình thức, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ em.