Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ THEO HƯỚNG PHỐI HỢP GIỮA GIA ĐÌNH VÀ NHÀ TRƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non Để có nền tảng cho trẻ mầm non bước vào thời kỳ học tập tại trường tiểu học, chúng ta cần trang bị cho trẻ những giá trị văn hóa cộng đồng. Giúp trẻ phát triển cả về thể chất, tinh thần và hiểu biết xã hội làm bước đệm cho trẻ tiếp nhận giáo dục phổ thông.
Việc giáo dục trẻ thành công hay không cũng tùy thuộc vào sự nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục từ khi còn nhỏ. Trong bài viết của Tiến sĩ Robert. Mayer nhấn mạnh “Tại sao phải đầu tư vào chương trình nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ những năm nhỏ tuổi, coi đây là một phần của chiến lược cơ bản, bởi vì cũng như trước khi xây dựng tòa nhà, ta cần xây dựng một cái nền bằng đá vững chắc trên cơ sở đó làm nền tảng xây nên tòan bộ công trình kiến trúc”. Trước khi một em bé bước vào trường tiểu học, cũng cần cho nó một nền tảng tương tự.
Ở Mỹ, việc giáo dục trẻ ở độ tuổi nhà trẻ và mẫu giáo mang tính chất bắt buộc cơ bản được thực hiện thông qua nền giáo dục công. Hầu hết trẻ em ở Mỹ đi học trong các cơ sở giáo dục công lập ở tuổi lên 5 hay 6. Chính phủ liên bang hỗ trợ tài chính cho chương trình “Head Start” - chương trình nhà trẻ và mẫu giáo dành cho các gia đình có thu nhập thấp. Còn hầu hết các gia đình tự tìm trường và trả chi phí nhà trẻ và mẫu giáo cho con cái mình.
Trong các thành phố lớn, đôi khi có những nhà trẻ và trường mẫu giáo phục vụ nhu cầu của các gia đình có thu nhập cao [1]. Ở Nhật nghiên cứu về giáo dục mầm non có tác giả Kurahashi được coi là “ông tổ” của ngành giáo dục mầm non, ông cho rằng giáo dục trẻ mầm non “hãy giáo dục bằng tình cảm của mình”, “dạy tâm trước khi dạy tính”, đặc biệt chú trọng đến trò chơi giữ vai trò trung tâm trong giáo dục mầm non. Điều này cho thấy, trong giáo dục mầm non cần lấy trẻ làm trung tâm, trẻ chính là chủ thể tích cực trong các hoạt động của chúng trong nhà trường [2]. 6 Trong công tác quản lý hoạt động nuôi dưỡng trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động nuôi dưỡng cho trẻ em và thanh thiếu niên và ở các cơ sở giáo dục nói chung, nhưng vẫn còn rất ít những công trình nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ trong nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập.
Nghiên cứu về phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non Về hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non đã có một số tác giả nghiên cứu. Từ tháng 6 năm 1957, tại Hội nghị Cán bộ đảng trong ngành giáo dục, trong bài phát biểu Bác Hồ có nêu rõ ý nghĩa sâu sắc trong việc phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, cụ thể như “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không thể hoàn toàn” [39; tr 168-172]. Bên cạnh đó còn có một số công trình nghiên cứu như tác phẩm“Chương trình chăm sóc, giáo dục mầm non về những vấn đề lý luận và thực tiễn” tác giả Trần Thị Ngọc Trâm[42], trong công trình này, tác giả đã chỉ ra nội dung trong chương trình GDMN, đồng thời chỉ ra những vấn đề có tính lý luận cũng như một số những kinh nghiệm thực tiễn trong chăm sóc và giáo dục trẻ.
Đề tài “Hướng dẫn nuôi dưỡng trẻ” của tác giả Nguyễn Thị Lâm và Lê Thị Hải [25] là tài liệu định hướng giúp giáo viên mầm non thực hiện chăm sóc và giáo dục trẻ hiệu quả. Nghiên cứu “Một số biện pháp can thiệp sớm tình trạng suy dinh dưỡng cho trẻ từ 18 đến 36 tháng ở trường mầm non” của tác giả Phạm Thị Hoa [20] đã chỉ ra cách thức chăm sóc trẻ suy dinh dưỡng giúp trẻ phát triển đảm bảo các chỉ số của độ tuổi. Ngoài ra, một số học viên thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục cũng đã tìm hiểu và viết đề tài luận văn tốt nghiệp đề xuất các giải pháp về quản lý hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non. Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu khác, trong đó các tác giả đều đề cập vai trò, nhiệm vụ của CBQL trong việc NDCSGD trẻ, những khó khăn, bất cập trong quản lý và một số giải pháp khắc phục.
Các đề tài luận văn Thạc sĩ có thể kể đến như: 7 Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Minh Nguyệt với đề tài “Các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ của QL các trường mầm non Quận 3 - Thành phố HCM” [29], đề tài “Quy hoạch phát triển giáo dục mầm non các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam đến năm 2015”[21], đề tài của Nguyễn Thị Đông“Quản lí hoạt động xã hội hóa giáo dục tại trường thực hành Hoa Sen, quận Ba Đình- Hà Nội trong bối cảnh hiện nay”[13]. Luận văn Thạc sĩ của tác giả Triệu Thị Hằng với đề tài: “Quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non Hoa Hồng quận Đống Đa, Hà Nội trong bối cảnh hiện nay”. Các luận văn này đều đã khái quát hóa được một số vấn đề lý luận về quản lý nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non, đồng thời đã đánh giá được thực trạng hoạt động quản lý nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ tại các trường mầm non cụ thể. Từ đó đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ.
Về cơ bản, các công trình trên đã đề cập đến công tác chỉ đạo, biện pháp quản lý các trường mầm non, các biện pháp cũng đã có những đóng góp nhất định đối với sự phát triển của GDMN. Tuy nhiên những công trình đi sâu về công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ theo hướng phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội còn chưa được nghiên cứu một cách bài bản, chuyên sâu. Vì vậy đề tài:“Quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ theo hướng phối hợp giữa gia đình và nhà trường ở các trường mầm non, huyện Kim Sơn, Tỉnh Ninh Bình” cần được triển khai nghiên cứu. Các khái niệm cơ bản 1.
Quản lý, Quản lý nhà trường 1. Quản lý Quản lý, theo nghĩa chung nhất, là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Quản lý là một hoạt động có tính chất phố biến, mọi nơi, mọi lúc, trong mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và liên quan đến mọi người. Đó là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác làm một công việc để đạt được mục tiêu chung [11].
Có nhiều quan niệm về quản lý, tùy thuộc vào các cách tiếp cận khác nhau. Chính từ sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến sự phong phú về các khái niệm “Quản lý”. Có thể điểm qua một số lý thuyết đó như sau: 8 Theo Paul Hersey và Ken Blanc Heard thì:“Quản lí là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt được mục tiêu của tổ chức” [35]. Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “ Quản lý là những tác hoạch định của chủ thể quản lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [27].
Theo Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[29]. Từ những quan niệm về quản lý nêu trên ta có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Trên cơ sở biết sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của bộ máy để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường. Quản lý nhà trường Nhà trường là tổ chức cơ sở của hệ thống giáo dục quốc gia, ở đó tiến hành quá trình giáo dục đào tạo trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục, hoạt động của nhà trường rất đa dạng, phong phú và phức tạp nên việc quản lý, lãnh đạo chặt chẽ, khoa học sẽ đảm bảo đoàn kết thống nhất được mọi lực lượng, tạo nên sức mạnh đồng bộ nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục đích giáo dục.
Quản lý nhà trường là tổ chức các hoạt động của cán bộ, giáo viên, nhân viên, người học, các yếu tố cho vận hành, các điều kiện bảo đảm giáo dục đào tạo trong nhà trường. Quản lý nhà trường bao gồm: tác động của chủ thể quản lý bên trong và bên ngoài nhà trường là những tác động của cơ quan quản lý giáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập của nhà trường và các phương tiện hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó. Các tác động của chủ thể bên trong nhà trường bao gồm các hoạt động: Quản lý quá trình dạy học, giáo viên, học sinh; CSVC, trang thiết bị của nhà trường; quản lý tài chính trường học; quản lý mối quan hệ nhà trường và cộng đồng. 9 Trong thực tiễn Việt Nam, tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “QL nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng HS” [17].