phần mở đầu và kết luận, đề tài được bố cục trong 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động vui chơi của trẻ tại các trường mẫu giáo. Thực trạng quản lý hoạt động vui chơi của trẻ tại các trường mẫu giáo thị xã Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Biện pháp quản lý hoạt động vui chơi của trẻ tại các trường mẫu giáo thị xã Điện Bàn tỉnh Quảng Nam 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CỦA TRẺ TẠI CÁC TRƢỜNG MẪU GIÁO 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động vui chơi của trẻ tại các trƣờng mẫu giáo 1. Các nghiên cứu ở ngoài nước Giáo dục MN là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò quan trọng trong việc hình thành những cơ sở nền tảng cho sự phát triển lâu dài về nhân cách của con người. Vì vậy, hầu hết các quốc gia và các tổ chức giáo dục quốc tế đều rất quan tâm đến công tác giáo dục MN; đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo và nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động vui chơi của trẻ tại các trường mẫu giáo. Có thể kể một số công trình nghiên cứu nổi bật như: Ở một số quốc gia phát triển như Mỹ, Anh, Hiệp hội giáo dục trẻ thơ không khuyến khích các trường mẫu giáo phải theo một chương trình mẫu giáo nào, mà họ chỉ cung cấp sự hướng dẫn và dựa trên nguồn tài liệu phong phú giáo viên được chủ động chọn nội dung, cách thức và sự đánh giá phù hợp với trẻ của mình.
Với cách tiếp cận đó, Spodek (1990), nhà giáo dục người Mỹ cho rằng người lớn chúng ta không thể quyết định dạy trẻ cái gì (nội dung) mà quên đi trẻ em học thế nào, bởi vì“học như thế nào” liên quan nhiều đến phương pháp. Nội dung chương trình (học cái gì), các quá trình học (học như thế nào), các chiến lược giảng dạy(dạy như thế nào), môi trường (hoàn cảnh học), và các chiến lược đánh giá (cho biết việc học tập xảy ra như thế nào) là những vấn đề có quan hệ qua lại với nhau và tạo nên chương trình GDMN (Brekdekamp, 1992). Vào thời Khổng Tử, ông đã có phương pháp giáo dục, học là phải luyện tập thường xuyên thì mới giúp con người có những nét tính cách riêng “học mà cứ thường thường tập luyện thì trong bụng lại không thỏa thích hay sao?”. Và học phải đi đôi với luyện tập để trở thành thói quen, hình thành những nét tính cách ngay từ lúc nhỏ“tập được từ lúc nhỏ như thiên tính, thói quen như tự nhiên”.
[13] Với phương pháp này ông muốn những nhà giáo dục phải thường xuyên tổ chức phương pháp luyện tập trong quá trình giáo dục con người. Với trẻ em, chơi là hình thức cơ bản giúp trẻ phát triển khả năng suy nghĩ và giao tiếp. Nhà tâm lý học Lêônchiev khẳng định: Hoạt động vui chơi và trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo. Thông qua trò chơi giúp trẻ hình thành và phát triển cấu trúc tâm lý mới trong nhân cách của trẻ.
Hoạt động chơi tạo ra những biến đổi về chất, có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành 6 nhân cách trẻ mầm non và chơi là tiền đề cho hoạt động học tập ở lứa tuổi tiếp theo. Maria Montessori (1896 - 1952) là bác sĩ, nhà tâm lí giáo dục của nước Ý đã dựa trên nền tảng của tâm lí học phát triển và cho rằng trẻ em là một chủ thể tích cực, chủ động, tự lựa chọn nội dung và tiến hành hình thức học tập của mình một cách độc lập. Hình thức học này gọi là “hoạt động tự do”, “vui chơi tự do”. Trong quá trình chăm sóc GD trẻ em bà đưa ra 8 nguyên tắc GD cơ bản.
Trong đó nguyên tắc “vui chơi và nhận thức” được nhắc đến đầu tiên. Bà nhấn mạnh đến việc trẻ chỉ được phát triển khi trẻ vui chơi, bà cho rằng vui chơi và nhận thức có mối quan hệ với nhau, suy nghĩ và vui chơi là một quá trình, GD nên tăng cường các hoạt động vui chơi để mở đường cho hoạt động nhận thức của trẻ. Tác giả Tina Bruce (1991) chuyên gia GDMN của Úc đã nghiên cứu và tóm tắt về giá trị của việc chơi đùa như sau: “Các nghiên cứu về não bộ, cũng như nghiên cứu trong các lĩnh vực khác đã cho thấy ngày càng rõ hơn về nhu cầu được vui chơi của tuổi thơ. Chơi đùa đóng vai trò là cơ chế tiếp sức cho những suy nghĩ mang tính can đảm, sáng tạo và nghiêm túc ở tuổi trưởng thành".
[6] Trong “Sổ tay hiệu phó chuyên môn”, tác giả A.Vaxiliepva đánh giá rất cao tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động vui chơi của trẻ. Tác giả cho rằng muốn quản lý tốt hoạt động này thì người quản lý phải quan sát và phân tích được HĐVC của trẻ và nắm vững đặc điểm riêng biệt của các trò chơi thì mới bồi dưỡng tốt cho giáo viên về công tác tổ chức HĐVC “Quan sát và phân tích HĐVC đó là một việc rất phức tạp [23]. Điều này nó gắn liền với ý nghĩa của trò chơi trong sự phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo, với vị trí của nó trong quá trình giáo dục ở trường mẫu giáo, với những thể loại trò chơi khác nhau cùng những đặc điểm riêng biệt. Nếu người lãnh đạo nắm vững đặc điểm riêng biệt này thì việc phân tích HĐVC sẽ được sâu sắc hơn và có thể giúp đỡ các cô giáo mẫu giáo một cách kịp thời”.
Có thể nhận thấy, những công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra ý nghĩa của HĐVC đối với trẻ mẫu giáo và công tác quản lý HĐVC của trẻ mẫu giáo trong mối quan hệ với quản lý, tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ ở trường mẫu giáo. Các nghiên cứu ở trong nước Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội [18]. 7 Để sự nghiệp giáo dục đạt chất lượng và hiệu quả cao đòi hỏi CBQL giáo dục phải đổi mới tư duy, biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa kinh nghiệm của thực tiễn với việc vận dụng sáng tạo tri thức hiện đại vào công tác quản lý ở đơn vị nhằm đáp ứng mục tiêu GD&ĐT, đưa nền giáo dục nước ta ngang tầm với nền giáo dục của khu vực và thế giới.
Trong đó, giáo dục nước ta quan tâm nhiều hơn đến hoạt động vui chơi và quản lý hoạt động vui chơi của trẻ tại các trường mẫu giáo. Trên cơ sở tiếp cận công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về tổ chức và quản lý HĐVC của trẻ mẫu giáo, trong những năm qua đã có một số nghiên cứu tiêu biểu của nhiều tác giả trong nước về vấn đề này, có thể kể đến như: Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà nghiên cứu việc “Tổ chức cho trẻ vui chơi trường mẫu giáo” với nhiều nội dung rất phong phú, đa dạng đã có kết luận rằng “Việc tổ chức cho trẻ vui chơi và việc hướng dẫn các trò chơi cho trẻ có những nội dung, phương pháp khác nhau” và “Giáo viên phải nắm được tình hình vui chơi của trẻ trong lớp và các phương pháp hướng dẫn để phát triển trò chơi cho trẻ”. [7] Trong cuốn “Tổ chức, hướng dẫn trẻ mẫu giáo chơi”, các tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang cũng đã nói rất nhiều về tầm quan trọng của việc tổ chức HĐVC cho trẻ và nhấn mạnh “Tổ chức chơi cho trẻ là tổ chức cuộc sống của trẻ”.7-9] Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Chúc (1981), với cuốn sách "Hướng dẫn tổ chức hoạt động vui chơi" [5]. Trong cuốn sách, tác giả đã đề cập đến các loại trò chơi, mức độ các mối quan hệ trong trò chơi.
Đó là: Chơi không có tổ chức, chơi một mình, chơi cạnh nhau, chơi với nhau trong một thời gian ngắn, chơi với nhau lâu trên cơ sở hứng thú với nội dung chơi. Tác giả khẳng định kết quả của hai mức độ cuối phụ thuộc vào kỹ năng hướng dẫn trẻ chơi của mỗi giáo viên. Trong tài liệu bồi dưỡng CBQL và GVMN (2006), Bộ GD&ĐT cũng nhấn mạnh “Vui chơi là hoạt động chủ đạo, có tác dụng giáo dục và phát triển trẻ toàn diện, giáo viên cần hiểu rõ tầm quan trọng và cách thức tiến hành, đánh giá HĐVC theo những yêu cầu mới trong chương trình GDMN”.[4] Có thể nói trong GDMN đã có các công trình nghiên cứu về chương trình GD, về các hoạt động giáo dục, về cách tổ chức các HĐVC của trẻ, đây là những công trình có nhiều đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn, là tài liệu tham khảo quan trọng. Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động vui chơi của trẻ ở trường mẫu giáo trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
8 Do đó, việc lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt động vui chơi của trẻ tại các trường mẫu giáo thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” là không trùng với bất kỳ công trình nào đã công bố. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý Quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội. Bất kỳ ở đâu, lúc nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất hiện quản lý.
Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan. Xã hội càng phát triển, nhu cầu và chất lượng quản lý càng cao. Trên cơ sở quan điểm khoa học và cách tiếp cận khác nhau mà hiện nay có nhiều quan niệm, khái niệm khác nhau về quản lý: Có quan điểm cho rằng, quản lý là hoạt động có mục đích rõ ràng, có nguồn gốc từ sự phân công và phối hợp giữa nhiều thành viên với nhau trong công việc của một tổ chức hay một đơn vị cụ thể.