CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON 1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới Hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo và quản lý hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở các trường mầm non là một trong những công tác hết sức quan trọng trong việc góp phần giúp trẻ em phát triển cả về thể chất, tình cảm, trí tuệ và thẩm mỹ. Vấn đề này được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Có thể kể đến những công trình nghiên cứu tiêu biểu dưới đây về vấn đề này.
Doggru và Seker (20212) đã xác định ảnh hưởng của các hoạt động khoa học đối với sự phát triển tư duy của các nhóm trẻ 5–6 tuổi trong giai đoạn mẫu giáo. Nhóm nghiên cứu bao gồm 48 trẻ em từ 5–6 tuổi đang theo học tại một cơ sở giáo dục tư thục ở thành phố Antalya. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng, các hoạt động khoa học là một kỹ thuật hiệu quả trong việc tiếp thu các khái niệm cơ bản liên quan đến “Trái đất, Mặt trời và Mặt trăng” vì chúng ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển các khái niệm đã có ở trẻ em [21]. Yildirim và cộng sự (2017) nhấn mạnh rằng, việc học phải được hỗ trợ bởi cả các hoạt động trong lớp và các hoạt động ngoài trời góp phần cấu trúc kiến thức.
Các hoạt động ngoài trời cho phép trẻ tham gia tích cực và học bằng cách làm. Học tập đòi hỏi rất nhiều công việc và hoạt động. Các hoạt động này cung cấp những trải nghiệm cơ bản, giúp trẻ vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực tiễn, ghi vào trí nhớ dài hạn và đưa ra giải pháp cho các vấn đề gặp phải trong cuộc sống hàng ngày dựa trên những gì đã học. Trẻ em, đặc biệt là trẻ mẫu giáo, có thể ghi lại mọi thứ vào bộ nhớ dài hạn trong môi trường học tập kích thích tất cả các giác quan.
Dựa trên những ý tưởng này, nghiên cứu này hướng tới việc khám phá tác động của các hoạt động ngoài trời đối với sự phát triển nhận thức, vận động, ngôn ngữ và tình cảm xã hội của trẻ mẫu giáo. Kết quả cho thấy hoạt động ngoài trời đã cải thiện các kỹ năng nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm xã hội và vận động của trẻ mầm non [24]. Nghiên cứu của Olcer S. Trong nghiên cứu của mình, Anne và các cộng sự (2021) đã phân tích vai trò của chuyển động cơ thể đến kỹ năng đọc và nhận dạng ở trẻ 5-6 tuổi.
Các tác giả cũng đề xuất các biện pháp để giáo viên có thể vận dụng trong công tác giảng dạy [19]. Nghiên cứu của Viet Nhi Tran và các cộng sự (2021) xác định thực trạng tổ chức 6 hoạt động khoa học cho trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi và quan điểm của giáo viên về nâng cao chất lượng giáo dục khoa học cho trẻ 5–6 tuổi ở Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện trên 150 giáo viên mầm non đang công tác với các lớp 5–6 tuổi tại 24 trường mầm non công lập ở 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Các phương pháp kết hợp bao gồm khảo sát, phỏng vấn giáo viên và quan sát các hoạt động khám phá khoa học đã được sử dụng.
Theo kết quả nghiên cứu, hoạt động giáo dục khoa học được tổ chức thường xuyên trong trường mầm non, có kế hoạch cụ thể, bám sát chương trình năm học và khung GDMN quốc gia của Việt Nam. Giáo viên đã sử dụng nhiều phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động khoa học nhưng môi trường lớp học chiếm ưu thế. Sự tham gia của gia đình và xã hội vào hoạt động khoa học ở trường mầm non còn hạn chế. Nghiên cứu cũng đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục khoa học trong trường mầm non, đó là cung cấp cơ sở vật chất, thiết bị, đồ chơi cần thiết cho trường mầm non và tăng cường đổi mới phương pháp dạy học hiện đại.
Kết quả nghiên cứu cung cấp những bằng chứng cần thiết về giáo dục khoa học cho trẻ mầm non về mặt thực tiễn, làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục khoa học cho trẻ mầm non ở Việt Nam [23]. Nghiên cứu của Damsgaard (2022) đã điều tra những tác động của việc học tập thể hiện đối với các kỹ năng đọc trước và đọc từ của trẻ em 5-6 tuổi. Kết quả từ nghiên cứu cho thấy rằng, có những tác dụng có lợi khi sử dụng các chuyển động toàn thân cho trẻ em. Các chuyển động của bàn tay thực sự cũng có tác dụng hiệu quả đối với kiến thức về âm thanh của chữ cái; tuy nhiên, các chuyển động toàn thân có tác dụng lâu dài hơn.
Chúng tôi không thấy ảnh hưởng đến việc đọc toàn bộ từ [20]. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã nhấn mạnh đến vai trò, tầm quan trọng của hoạt động giáo dục, các yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt động giáo dục khác nhau của trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non nói riêng. Tuy nhiên, ít có công trình nghiên cứu quản lý hoạt động giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non, đặc biệt tại một địa phương cụ thể, đặc biệt là tại các trường mầm non công lập của quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Nghiên cứu ở Việt Nam Nghiên cứu về hoạt động giáo dục, quản lý hoạt động giáo dục cho trẻ ở trường mầm non nói chung và trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi có thể kể đến các nhà nghiên cứu, nhà giáo dục, nhà quản lý như sau: Đào Việt Cường (2008) qua đề tài “Tìm hiểu tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo 5– 6 tuổi trong trò chơi học tập ở một số trường trong TP.HCM” đã xây dựng và thử nghiệm các biện pháp nhằm nâng cao tính tích cực nhận thức trong trò chơi học tập của trẻ [6].
Việc quản lý hoạt động giáo dục trẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Tài liệu tập huấn của Bộ GD&ĐT về “Chăm sóc nuôi dưỡng và đảm bảo an toàn cho trẻ trong cơ sở giáo dục mầm non” đã hướng dẫn cụ thể việc giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe cho 7 trẻ, rèn luyện thói quen vệ sinh, giúp trẻ chống đỡ bệnh tật, thích nghi điều kiện sống, hình thành những thói quen cơ bản giúp trẻ có nền nếp tốt [4]. Luận văn của Đỗ Thị Kim Thu (2015) đã phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục trẻ tại trường mầm non Ánh Dương, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số biện pháp để tăng cường quản lý hoạt động này bao gồm: Xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục trẻ trong nhà trường phù hợp và đáp ứng được các yêu cầu của thực tiễn; Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn nâng cao chất lượng tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ cho giáo viên trong nhà trường; Tổ chức, chỉ đạo xây dựng môi trường học tập theo hướng mở, khuyến khích sự sáng tạo trẻ trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ; Chỉ đạo nghiêm túc thực hiện có hiệu quả công tác kiểm tra đánh giá chất lượng các hoạt động giáo dục trẻ; Tăng cường công tác quản lý có hiệu quả đối với việc phối kết hợp gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục trẻ [17].
Bàn về quản lý hoạt động giáo dục thể chất trong trường mẫu giáo quận Long Biên, thành phố Hà Nội, tác giả Nguyễn Bích Ngọc (2017) khẳng định: Hiệu trưởng trường MN thực hiện các hình thức giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo trong trường MN, biện pháp quản lý giáo dục thể chất khác nhau và mức độ thực hiện được đánh giá ở mức độ khá tốt. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo của hiệu trưởng trường MN rất đa dạng và mức độ ảnh hưởng rất nhiều. Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn, tác giả cho rằng muốn nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo trong trường MN, cần tiến hành đồng bộ các biện pháp giáo dục thể chất: Tổ chức nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, GV về tổ chức hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo; Chỉ đạo xây dựng kế hoạch giáo dục thể chất trong trường MN phù hợp với yêu cầu đổi mới GDMN và thực tiễn nhà trường; Tổ chức hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ trong trường MN; Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục thể chất cho GVMN; Khai thác và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất hỗ trợ hoạt động giáo dục thể chất trong trường MN; Tổ chức tốt sự phối hợp với CMHS trong việc rèn luyện phát triển thể chất cho trẻ MN; Tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục thể chất ở trường MN .Việc quản lý hoạt động giáo dục trẻ phụ thuộc nhiều yếu tố [13]. Trong nghiên cứu của mình, trên cơ sở tìm hiểu các vấn đề lý luận và thực trạng mức độ KNSDSĐ của trẻ mẫu giáo (MG) 5-6 tuổi, nghiên cứu của Trần Viết Nhi (2018) trình bày một số biện pháp rèn luyện KNSDSĐ cho trẻ MG 5-6 tuổi qua tổ chức hoạt động khám phá khoa học cho trẻ ở trường mầm non, bao gồm: Cung cấp, chính xác hóa các biểu tượng về thế giới xung quanh cho trẻ; Sử dụng sơ đồ trong quá trình cung cấp, hệ thống hóa kiến thức; Tăng cường cho trẻ chơi với sơ đồ [14].
Nghiên cứu của Trương Tuyết Hạnh (2020) đã tiến hành đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ5 -6 tuổi ở trường mầm non công lập quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, tác giả cũng đề xuất các giải pháp 8 quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ5 -6 tuổi ở trường mầm non công lập tại địa phương này, bao gồm: Chỉ đạo giáo viên biên soạn giáo án giáo dục kỹ năng hợp tác theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm; tổ chức giáo viên làm đồ dùng dạy học để đáp ứng yêu cầu kỹ năng hợp tác cho trẻ; cải tiến chất lượng công tác bồi dưỡng giáo viên về kỹ năng hợp tác với hình thức chia sẻ chuyên môn từ đồng nghiệp; Chỉ đạo giáo viên tăng cường phối hợp với cha mẹ trẻ trong công tác kiểm tra - đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng hợp tác [9].