Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QLGD LONG NHÂN AI THONG QUA DẠY HỌC CÁC MÔN HỌC CHO HS Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tông quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về giáo dục đạo đức và lòng nhân ái cia HS ở trường tiểu học Giáo dục đạo đức, lối sống cho HS là một quá trình tác động lâu dài, nhằm hình thành và phát triển một cách tích cực, đúng đắn về nhận thức, thái độ, tình cảm và hành vi cá nhân của HS. Đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, vừa giải quyết những vấn đề trước mắt vừa mang tính chiến lược, có giá trị định hướng lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi quốc gia.
Cuốn sách “Đạo đức học” của G.Bandzeladze, đã luận giải về vai trò của đạo đức, làm sáng tỏ nhiều hiện tượng đạo đức xã hội cũng như mối liên hệ giữa đạo đức với "tính người" của con người.Bandzeladze nhắn mạnh tới vai trò và cho rằng "đạo đức là tập hợp những tiêu chuẩn thể hiện mối quan hệ tự nguyện tự giác của những người có quan hệ với nhau và mối quan hệ với cộng đồng xã hội". Ông cũng chỉ ra những đặc trưng cơ bản của phạm trù đạo đức và kết luận rằng: đạo đức là đặc điểm bản tính của con người chỉ con người mới có đạo đức, vì vậy nó chứa đựng những đặc điểm của bản tính loài nguoi. Ở phương Tây, tác gia Petxtalogi (1746-1827) — người sinh ra tại Zurich (Thụy Sĩ) là một người giàu tình cảm và có lòng nhân ái sâu sắc, trong nguyên tắc và quan điểm giáo dục của Petxtalogi là: “Giáo dục bằng lòng nhân ái, gợi mở tắm lòng nhân ái của trẻ”. Theo Petxtalogi, nội dung giáo dục đạo đức hướng tới mức độ đạo đức cao nhất chính là giáo dục lòng nhân ái, lòng yêu thương của con người trong cuộc sống.
Ông xác định PPGD chủ yếu là việc dạy học phải thích nghi với định luật tâm lý. Ông nói: “Tôi tìm cách tâm lí hóa tác động giáo dục” [13]. Konstantin Dmitriyevic Usinxki (1824-1870) là một nhà giáo dục vĩ đại của nước Nga thé ki XIX, quan điểm về giáo dục đạo đức của ông, Usinxki yêu cầu bồi đưỡng cho trẻ em những đức tính sau đây: lòng nhân đạo, lòng trung thành, tính thật thà, tình yêu lao động, tính kỉ luật, tính thần trách nhiệm, tính khiêm tốn, lòng tự trọng, ý chí cương nghị, tinh thần làm tròn nghĩa vụ. Usinxki coi trọng hình thức giáo dục thông qua lao động, từ đó làm cơ sở để phát triển trí lực, trí tuệ, trí đức [13].
Học thuyết Mác-Ăngghen và Lênin về giáo dục đã kế thừa có chọn lọc và phát triển lên đỉnh cao những giá trị và tỉnh hoa trong di sản giáo dục tiến bộ của nhân loại. Lénin đã coi công tác tri dục chính là truyền đạt lại cho thế hệ trẻ nam vững được những tri thức khoa học, đó cũng là một nhiệm vụ cơ bản trong thực hiện nội dung giáo dục của các nhà trường Xô Viết. Câu nói bất hủ của Lênin “Học, học nữa, học mãi” đã nói lên sự thiết tha và quan tâm của Người đối với trí duc [13]. Ở phương Đông, có cha đẻ của Nho giáo - Không Tử (551 - 479 TCN), với tư tưởng giáo dục con người lay dao đức làm trọng tâm, ông khang định người có “đức nhân” là người “quân tử” có đủ phẩm cách và năng lực thi hành “đạo lớn”.
Ông đã viết tác phẩm bất hủ “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân Thu” về giáo dục đạo đức, nhân phẩm cho con người [13]. Thái Nguyên Bồi (1868-1940), người khởi xướng mô hình giáo dục mới, nền giáo dục với đặc trưng 5 loại, trong đó giáo dục về đạo đức luân lí. Nghiên cứu tinh thần khoa học phương Tây, Thái Nguyên Bồi vận dụng tư tưởng đạo đức tự do, bình đăng, bác ái vào xã hội Trung Quốc: “Giáo dục đạo đức nhằm hướng con người sống và làm việc vì nhau, vì lợi ích và sự bảo vệ lẫn nhau. Tất cả nhằm phá vỡ lối sống ích kỷ, xoá bỏ tận gốc rễ tư tưởng phân biệt "tôi" và "người khác" [13].
Với những quan điểm trên, tác giả nhận định được đạo đức được xem là "công cụ" nhằm điều tiết các mối quan hệ giữa con người và con người trong xã hội, để tránh những mâu thuẫn, xung đột không đáng có giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội. Từ đó, những công trình nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức, lòng nhân ái nói riêng cũng đa dạng và phong phú góp phần xây dựng, đề xuất những kinh nghiệm cải tạo, đổi mới nền giáo dục hiện tại và tương lai. Các nghiên cứu về quản lý đạo đức và lòng nhân ái ở trường tiểu học Ngày 18 thang 12 năm 1954, khi nói chuyện với HS các trường trung hoc Nguyễn Trãi, Chu Văn An và Trưng Vương (Hà Nội), Hồ Chủ tịch đã nói: “Học bây giờ với học dưới chế độ thực dân phong kiến khác han nhau”. Dat nước đã hoà bình, bây giờ phải học dé: Yêu Tổ quốc, Yêu nhân dân, Yêu lao động, Yêu khoa học và Yêu đạo đức.
Nhắc đến lòng nhân ái, ta không thé không ké đến vị lãnh tụ vĩ đại của Việt Nam, trong các bài báo được đăng tải các tác giả đều nhấn mạnh: “Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất không chỉ là tắm gương sáng ngời về phẩm chất Cẩn- Kiệm- Liêm chính - Chí công vô tw” mà còn là biểu tượng cao đẹp về lòng nhân ái, yêu thương con người. Quan điểm vì con người của Bác đã trở thành một triết lý nhân sinh cao cả, biểu tượng của lòng nhân ái, vị tha để mỗi chúng ta tự hào học tập và noi theo. Trong lĩnh vực Khoa học giáo dục, các giáo trình Giáo dục học (tập 1, 2) của Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt [20], Giáo dục học của Phạm Viết Vuong [29]. Các tác giả đều cho răng giáo dục "thông qua các môn học" chính là phuoưng pháp giáo dục đạo đức cho HS hiệu quả nhất.
Bên cạnh chỉ đạo đức giảng dạy qua môn học Dao đức, thì các giáo viên có thé giảng dạy thông qua các môn học như: Tiếng Việt, Tự nhiên và Xã hội, Mỹ thuật, Âm nhạc. hoặc thông qua các HĐGD khác trong nhà trường. Vẫn đề giáo dục đạo đức cho HS cũng được đề cập trong các giáo trình về Tâm lý như: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học SP của Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thành năm 1999 [16], Tâm lý học của Bùi Văn Huệ năm 2000 [17]. Các tác giả đều đề cập đến “những vấn dé về giáo duc đạo đức cho HS dưới góc độ tâm lý học và tâm lý học SP”.
Theo các tác giả, nhà trường thông qua các giờ học đạo đức, HS được trang bị những tri thức về đạo đức một cách khái quát và hệ thống và “Von kiến thức này có ý nghĩa đặc biệt ở việc giúp HS có cơ sở đúng đắn dé nhìn thấy và nhận biết được hiện tượng đạo đức và hiện tượng phi đạo đức biểu hiện ở xung quanh mình mỗi ngày và từ đó giúp các em rèn luyện được tính tự giác trong hành vi ứng xử phẩm chất nhân ái của mình ” [19]. Những nghiên cứu gần đây như của tác giả Tạ Diễm Mi với bài viết Tăng cường giáo dục phẩm chất nhân ái cho HS ở trường tiêu học trên tạp chí thiết bị giáo dục. Bài viết đã phân tích các khái niệm chính liên quan, tầm quan trọng giáo dục pham chất nhân ái cho HS lớp 1 ở trường tiểu hoc; uc tiêu giáo dục phẩm chat nhân ái cho HS lớp 1 ở trường tiêu học; Nguyên tắc giáo dục phẩm chất nhân ái cho HS lớp 1 ở trường Tiểu học; Nội dung giáo dục phẩm chất nhân ái cho HS lớp 1 ở trường tiêu học; PPGD phẩm chất nhân ái cho HS lớp 1 ở trường tiểu học; Hình thức giáo dục phâm chat nhân ái cho HS lớp 1 ở trường tiêu học và sự phối hợp các lực lượng giáo dục phẩm chất nhân ái cho HS lớp 1 ở trường tiêu học. Nhân ái không chỉ là một giá trị đạo đức mà còn là nền tảng để xây dựng mối quan hệ xã hội lành mạnh, giúp trẻ phát triển toàn diện và trở thành công dân có trách nhiệm trong tương lai.
Khi giáo dục nhân ái được triển khai tốt, lớp học trở thành một môi trường an toàn, thân thiện, nơi các em cảm thấy được tôn trọng và yêu thương. Điều này thúc đây tinh thần học tập và khả năng tương tác tích cực giữa các HS. Bài viết của Chu Thị Hong Nhung trên tạp chí Khoa hoc giáo duc (2017) về 10 HĐGD lòng nhân ái cho trẻ qua trải nghiệm. Giáo dục lòng nhân ái là quá trình tác động có mục tiêu, có định hướng của nhà giáo dục đối với nhận thức, thái độ và hành động của trẻ thông qua các HDGD ở trường mẫu giáo nhằm hình thành ở trẻ tình cảm thương yêu, biểu hiện qua thái độ cảm thông, yêu thương, quan tâm, giúp đỡ, tôn trọng, bao dung đối với cha mẹ, mọi người và sự vật chung quanh.
Quy trình giáo dục lòng nhân ái ở trẻ 5-6 tuổi thông qua trải nghiệm gồm 4 giai đoạn: (1) Trải nghiệm cụ thé; (2) Quan sat phan tich, (3) Duc kết khái niệm/tự rút ra bài hoc; (4) Thử nghiệm tích cực. Việc giáo dục lòng nhân ái cần chú trọng nhiều hơn đến việc lựa chọn và tổ chức các hoạt động đa dạng ở trường mầm non để tạo nhiều cơ hội cho trẻ được trải nghiệm. Dé giáo dục lòng nhân ái cho trẻ, giáo viên cần khai thác ưu thế của các hoạt động giúp trẻ có nhiều cơ hội được trải nghiệm, rèn luyện hành vi như: Hoạt động chơi; hoạt động lễ hội; hoạt động lao động; hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày; hoạt động thăm quan, dã ngoại Trong quá trình đổi mới giáo dục, Chương trình GDPT 2018 nêu rõ yêu cầu cần đạt về năng lực và pham chất: “Chương trình GDPT hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất chủ yếu sau: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm ”[S]. Như vậy, vấn đề giáo dục lòng nhân ái cho HS đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu.
Các công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra các khái niệm lòng nhân ái, vai trò của lòng nhân ái trong đời sống xã hội hiện nay, góp phần hình thành năng lực, phẩm chất cũng như các mối quan hệ ứng xử và các hoạt động của con người trong cuộc sống.