Mở đầu, 3 chƣơng, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục. 5 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở TRƢỜNG MẦM NON 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Trên thế giới khoảng những năm 90 đã xuất hiện thuật ngữ “Kĩ năng sống” trong một số chƣơng trình giáo dục.
Tổ chức UNESCO cho rằng: “kĩ năng sống là năng lực cá nhân giúp cho việc thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày”. Theo UNICEF kĩ năng sống phải dựa trên nhận thức, thái độ và chuyển biến thành hành vi nhƣ một yêu cầu liên hoàn và có hƣớng đích. Một số nƣớc gần với Việt Nam trong khu vực Đông Nam và cả Châu Á nói chung nhƣ: Ấn Độ, Lào, Campuchia, Indonexia, Malaysia, Thái Lan, … việc nghiên cứu kỹ năng sống theo hƣớng áp dụng thử nghiệm rất đƣợc quan tâm, và triển khai chƣơng trình dạy kỹ năng sống ở các bậc học phổ thông từ mầm non cho đến Trung học phổ thông. Mục tiêu chung của giáo dục kỹ năng sống đƣợc xác định là: “Nhằm nâng cao tiềm năng của con ngƣời để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hằng ngày, đồng thời tạo ra sự đổi thay và nâng cao chất lƣợng cuộc sống”.
Điển hình nhƣ tại Ấn Độ, kỹ năng sống đƣợc xem là khả năng giúp tăng cƣờng sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của con ngƣời. Kỹ năng sống có thể hiểu bao gồm: kỹ năng giải quyết vấn đề, tƣ duy phê phán, tƣ duy sáng tạo, giao tiếp, quan hệ liên nhân cách, ra quyết định, đàm phán, tự nhận thức, đối phó với stress và cảm xúc, từ chối, kiên định và hài hòa… Năm 1993, tổ chức WHO cho rằng kĩ năng sống là năng lực tâm lí – xã hội thể hiện khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống. Kĩ năng sống còn đƣợc xem nhƣ khả năng duy trì trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần biểu hiện qua các hành vi phù hợp khi tích cực tƣơng tác với 6 Luan van ngƣời khác.[6] Năm 2003 tại Indonesia đã diễn ra hội thảo về giáo dục KNS trong giáo dục với sự tham gia của 15 nƣớc. Qua báo cáo của các nƣớc cho thấy có nhiều điểm chung, nhƣng có những nét riêng trong giáo dục kĩ năng sống: Nƣớc Thái Lan nhìn nhận một cách khái quát kĩ năng sống là khả năng của cá nhân có thể giải quyết những vấn đề trong đời sống hàng ngày để an toàn và hạnh phúc.
Quan niệm của nƣớc Ấn Độ kĩ năng sống là những khả năng giúp tăng cƣờng sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của con ngƣời. Nƣớc Nepal thì coi kĩ năng sống nhƣ là một phƣơng thức để ứng phó hay là những kĩ năng cần thiết để tồn tại. Tại Philipine kĩ năng sống là những năng lực thích nghi và tính tích cực của hành vi giúp cho cá nhân có thể ứng phó một cách hiệu quả với những yêu cầu, những thay đổi, những trải nghiệm và tình huống của đời sống hàng ngày.[10] Từ năm 1997 tại Lào khái niệm kĩ năng sống đƣợc thể hiện trong các ngữ cảnh cụ thể, liên quan đến giáo dục phòng tránh HIV/AIDS và đã đƣợc lồng ghép vào chƣơng trình giáo dục chính quy, không chính quy và các trƣờng sƣ phạm đào tạo giáo viên.Tại Campuchia có quan niệm kĩ năng sống là năng lực mà con ngƣời cần phải có để nâng cao các điều kiện sống có hiệu quả nhằm phát triển quốc gia. Trong những năm gần đây, chƣơng trình giáo dục của đất nƣớc Malaysia kĩ năng sống đƣợc coi nhƣ là một môn học, mục tiêu của môn học này là cung cấp cho học sinh những kĩ năng thực tế cơ bản để họ có thể thực hiện các nhiệm vụ và có xu hƣớng kinh doanh.
[10] Ở Campuchia, kỹ năng sống đƣợc đào tạo chính quy trong nhà trƣờng và đƣợc coi nhƣ là những nhân tố chính trong chính sách giáo dục nhằm kết nối giáo dục với nhu cầu thị trƣờng để phát triển kinh tế xã hội. Sự kết nối này sẽ nâng cao tính hiệu quả nghề nghiệp của ngƣời học sau khi tốt nghiệp và tăng cƣờng sự đầu tƣ của địa phƣơng và quốc tế, đồng thời sẽ tạo ra nhu cầu tự học của ngƣời học. Chƣơng trình giáo dục kỹ năng sống trong các trƣờng chính quy đều hƣớng tới giúp ngƣời học có khả năng áp dụng kiến thức của các môn học khác nhau vào cuộc sống hiện thực; Sau khi rời ghế nhà trƣờng là ngƣời tích cực và có trách nhiệm đối với xã hội; Tham gia vào thế giới công việc; Giảm nạn thất nghiệp và nghèo đói để góp phần phát triển xã hội… Để thực hiện đƣợc những mục tiêu đó, việc giáo dục kỹ năng sống tại Campuchia đƣợc thực hiện nhƣ sau: các kỹ năng sống chung đƣợc 7 Luan van tích hợp vào bài học của các môn học cơ bản từ lớp 1 đến lớp 12; các kỹ năng nghề nghiệp từ lớp 6 đến lớp 12 đƣợc tổ chức dạy và thực hành trong các tiểu ban công nghệ; các kỹ năng nghề đơn giản đƣợc lựa chọn thực hiện dựa trên khả năng của từng trƣờng. Tại Malaysia, nhiều nhà nghiên cứu coi kỹ năng sống là một môn học của cuộc sống và môn này đƣợc dạy nhƣ một môn học ở trƣờng tiểu học và trung học cơ sở.
Mục tiêu môn học này ở trƣờng tiểu học là cung cấp cho ngƣời học những kỹ năng thực tế cơ bản để có thể thực hiện các nhiệm vụ trong cuộc sống; còn ở bậc Trung học cơ sở là hƣớng đến việc trang bị những kỹ năng để góp phần tạo nên những cá nhân độc lập, tự chủ về cuộc sống, có kỹ năng về công nghệ, có sự tự tin, sáng tạo, có khả năng tƣơng tác hiệu quả với ngƣời khác. Bên cạnh đó, sách “Early years play and learning: Developing social skills and cooperation” của tác giả Pat Broadhead cung cấp cho học sinh một bộ công cụ hoàn hảo cho việc nhận xét và tham gia vào các trò chơi của trẻ. Sách giúp cho các giáo viên, đặc biệt là các giáo viên trẻ hiểu đƣợc mối quan hệ giữa việc phát triển trí thông minh với sự phát triển về ngôn ngữ - đạt đƣợc trạng thái tốt về cảm xúc. [26] Sách “Teaching Your Children Life Skills” của tác giả Deborah Carroll đề cập đến 10 điều quan trọng cần lƣu ý khi dạy con em; làm thế nào để công việc, các chuyến đi mua sắm, các kỳ nghỉ và các tình huống khác trở thành cơ hội học tập những kỹ năng thực hành quan trọng; chỉ ra cách để giúp các em rèn luyện cách cƣ xử tốt và các giá trị tốt đẹp mà không cần giảng dạy dai dẳng, và hƣớng dẫn để phát triển lòng tự trọng và kỹ năng sống lâu dài thông qua công việc hằng ngày.
[23] Sách “The Practical Life Skills Workbook” của Ester A. Liptak cho rằng kỹ năng sống thực sự quan trọng hơn chỉ số thông minh. Kỹ năng sống là những kỹ năng vô giá của ngƣời sử dụng hằng ngày, cho phép họ tạo ra cuộc sống mà họ mong muốn. Chỉ số thông minh của một ngƣời có kỹ năng sống gồm cả thể chất, tinh thần, sự nghiệp, tình cảm, xã hội, trí thông minh.
[24] Từ những điều trên cho thấy quan niệm về kĩ năng sống của một số nƣớc có những điểm chung do cùng dựa vào quan niệm của Tổ chức WHO hoặc UNESCO hoặc UNICEF, nhƣng cũng phản ánh nét riêng do hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam Từ những năm 1990, “Kĩ năng sống” đƣợc biết đến ở Việt Nam, qua dự án của UNICEF phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Hội chữ thập đỏ Việt Nam với chƣơng trình: “GDKNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trƣờng”. [10] Khái niệm về kĩ năng sống đƣợc làm rõ hơn tại Việt Nam do UNESCO phối hợp với Viện Khoa học giáo dục Việt Nam với Hội thảo “ Chất lƣợng giáo dục và kĩ năng sống” vào năm 2003. Năm học 2003-2004, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam phối hợp UNESCO triển khai nghiên cứu về “GDKNS ở Việt Nam” đã trình bày một cách tổng quan về nhận thức, thực trạng và định hƣớng GDKNS ở Việt Nam.
Năm 2005, một số tài liệu, đề tài nghiên cứu đƣợc triển khai liên quan đến GDKNS trong các trƣờng THCS và THPT. Năm học 2010-2011, Bộ GDĐT đã có công văn về việc tăng cƣờng thực hiện GDKNS trong tất cả các bậc học và đã cho phép xuất bản bộ tài liệu tích hợp GDKNS qua các môn học. Giáo dục lần đầu tiên cho in quyển “Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5 đến 6 tuổi” của tác giả Lê Bích Ngọc. Mục đích của cuốn sách này tác giả muốn nhắm đến các phụ huynh có con từ 5 đến 6 tuổi ở vùng nông thôn.
Trong đó tác giả phân loại thành 7 nhóm kỹ năng sống; mỗi nhóm gồm nhiều kỹ năng sống; mỗi kỹ năng sống có hƣớng dẫn về tên gọi, những điều cha mẹ cần hƣớng dẫn cho trẻ và gợi ý các hoạt động, phƣơng tiện, hình thức giáo dục.[7] Ngày 28 tháng 02 năm 2014 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tƣ số 04/2014/TT-BGDĐT về quy định Quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa. Đối với bậc học mầm non qui định là hoạt động giáo dục giúp ngƣời học hình thành và phát triển những thói quen, hành vi, thái độ tích cực. Dựa theo Thông tƣ số 04/2014/TT-BGDĐT, ngày 05 tháng 9 năm 2014 Sở Giáo dục và Đào tạo ban hành văn bản hƣớng dẫn thực hiện theo từng cấp học. Ngày 28 tháng 01 năm 2015 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai văn bản số 463/BGDĐT-GDTX hƣớng dẫn việc tổ chức giáo dục KNS tại các cơ sở GDMN với nội dung: Giúp trẻ nhận thức về bản thân nhƣ tự tin, tự lực, thực hiện những quy tắc an toàn thông thƣờng, biết làm một số việc đơn giản; hình thành và phát triển các kĩ năng xã hội cần thiết: thể hiện tình cảm, sự chia sẻ, hợp tác, kiên trì, vƣợt khó; hình thành một số kĩ năng ứng xử phù hợp với gia đình, cộng đồng, bạn bè và 9 Luan van môi trƣờng.