phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các tài liệu tham khảo và Phụ lục 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái quát tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu trên thế giới Trong giáo dục - đào tạo, trải nghiệm là một hệ thống kiến thức, kĩ năng mà con ngƣời tích lũy đƣợc thông qua các hoạt động dạy học bằng cách tham gia vào thực tiễn. Đó là những kiến thức không chỉ bó hẹp trong không gian lớp học, trong nội dung của sách giáo khoa mà con ngƣời học đƣợc ở bên ngoài phòng học thông qua giao tiếp, thông qua các hoạt động thực tiễn.
Nhƣ vậy, trải nghiệm là một vòng tuần hoàn giữa kinh nghiệm của con ngƣời với thực tiễn khách quan sinh động. Nhƣng hơn cả kinh nghiệm, trải nghiệm giúp cho con ngƣời hình thành nên khả năng thích nghi để tồn tại và phát triển, hay nói cách khác trải nghiệm để tích lũy các kĩ năng sống, để thu thập kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng mà HS nhận đƣợc bên ngoài không gian lớp học thông qua sự giao tiếp với nhau, với mọi ngƣời xung quanh và với môi trƣờng thực tiễn. Vậy trải nghiệm là con đƣờng, cách thức làm ra kiến thức từ thực tiễn chứ không đơn thuần là kiến thức có trong sách vở. Các nƣớc phát triển hiện nay đều rất quan tâm đến hoạt động trải nghiệm đặc biệt là các nƣớc áp dụng chƣơng trình giáo dục phổ thông theo định hƣớng phát triển năng lực ngƣời học; phát triển giáo dục nhân văn, giáo dục phẩm chất và kĩ năng sống… Tại Singapore chƣơng trình giáo dục nghệ thuật đƣợc tài trợ miễn phí cho các nhà trƣờng phổ thông nhƣ chƣơng trình của các nhóm nghệ thuật, những kinh nghiệm sáng tạo nghệ thuật… (dẫn theo [10]).
Chƣơng trình giáo dục phổ thông của Singapore đƣợc xây dựng theo định hƣớng phát triển các năng lực cho học sinh. Do đó, nội dung chƣơng trình học 5 tập cả chính khóa và ngoại khóa đều hƣớng đến việc phát triển các năng lực cho học sinh. Cụ thể là: - Rèn luyện thể thao nhằm mang lại thân thể cƣờng tráng, tinh thần đồng đội cho học sinh. - Truyền bá cho học sinh sự đa dạng, phong phú của các di sản văn hóa xã hội đa sắc tộc.
- Bồi dƣỡng niềm tin, tính kiên cƣờng, tính kỷ luật và tinh thần tƣơng hỗ lẫn nhau giúp cho học sinh trở thành những công dân tốt. - Trau dồi, phát triển các kỹ năng xã hội, kỹ năng thích ứng với sự thay đổi của môi trƣờng sống. Thời lƣợng dành cho hoạt động ngoại khóa cũng thay đổi theo lứa tuổi. Đối với cấp tiểu học, chỉ có học sinh từ lớp 3 đến lớp 6 mới tham gia hoạt động ngoại khóa.
Đối với lớp 1 và lớp 2 sẽ đƣợc thiết kế chƣơng trình học tập năng động theo tuần. Chƣơng trình tiến hành trong 7 - 10 tuần, mỗi tuần tổ chức trong 2 giờ, sẽ có 3 - 4 modul tổ chức ngoài trời dành cho các hoạt động thể thao ngoài trời, nghệ thuật,. Ở Hàn Quốc, hoạt động trải nghiệm đƣợc tiến hành thực hiện ngay từ lớp 1 đến lớp 12. Chƣơng trình giáo dục trải nghiệm có 3 nhóm hoạt động chính là hoạt động độc lập, hoạt động câu lạc bộ và hoạt động định hƣớng.
Tùy vào đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh, cấp học, khối lớp, nhà trƣờng và điều kiện địa phƣơng mà nhà trƣờng có thể lựa chọn các hoạt động cho phù hợp với mỗi nhà trƣờng. Đối với tiểu học, nội dung chính của chƣơng trình trải nghiệm lấy trọng tâm là những thói quen sinh hoạt cơ bản, nuôi dƣỡng ý thức, tƣ duy tập thể cho học sinh đồng thời phát hiện những nhân tố, các tính cách của các em [11]. Các nhà quản lí giáo dục tại Hà Lan đã xây dựng hệ thống website với mục đích trợ giúp học sinh làm quen với nghề nghiệp. Các em gửi dự án của 6 mình vào trang mạng này và có thể nhận đƣợc khoản kinh phí nhỏ để thực hiện dự án của mình [11].
Chƣơng trình trải nghiệm của nƣớc Anh cung cấp hàng loạt tình huống cuộc sống thực tiễn hàng ngày cho học sinh và yêu cầu học sinh phải sử dụng nhiều tri thức, kĩ năng của mình để giải quyết vấn đều nhằm đạt kết quả cao nhất; đồng thời cung cấp cho các em các cơ hội sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ, dám làm…[13]. Tại trung tâm giáo dục trải nghiệm Widehorizon (Chân trời rộng mở) ở thành phố London là nơi tổ chức các hoạt động trải nghiệm hàng đầu nƣớc Anh. Tham gia vào các hoạt động trải nghiệm tại đây học sinh sẽ có cơ hội đƣợc trải nghiệm. Trung tâm đã trang bị đầy đủ cơ sở vật chất nhƣ: phòng học, vƣờn/công viên; thiết kế, xây dựng, nghề nghiệp, kiến trúc,.
để tổ chức các loại hình trải nghiệm dành cho học sinh. Nội dung chƣơng trình trải nghiệm cung cấp các tình huống đa dạng mà các em hay gặp trong cuộc sống và yêu cầu các em phải vận dụng kinh nghiệm của mình để giải quyết vấn đề. Các hoạt động trải nghiệm tại Đức rất quan tâm đến tầm quan trọng của các kĩ năng nhƣ: sáng tạo; khả năng học tập độc lập; tƣ duy phê phán và học từ kinh nghiệm của chính mình [21]. Giáo dục của Nhật Bản đƣợc thiết kế dựa trên việc coi trọng các trải nghiệm của học sinh, lấy chúng làm nguyên liệu, đầu mối, xuất phát điểm để xây dựng nội dung chƣơng trình.
Trong chƣơng trình giáo dục, học tập trải nghiệm với các hoạt động cụ thể đƣợc triển khai ở tất cả các môn học: xã hội, khoa học, đời sống,… chỉ tính riêng trong môn xã hội và các hoạt động liên quan đã có hàng vạn các “thực tiễn giáo dục” lấy hoạt động trải nghiệm làm trọng tâm. Ví dụ nhƣ các hoạt “Đời sống làng quê”; “Cuộc đời của một con ngƣời”; “Ga Fukuoka”; “Con chó ở ụ vỏ sò Kassori”,… Thomas More (1478 - 1535) “đánh giá rất cao vai trò của lao động đối với con người và xã hội nên việc GD con người phải thực hiện kết hợp GD nhà trường, trong lao động và các hoạt động trong xã hội” [dẫn theo 21].A Comenius (1592 - 1670) đƣợc coi là “ông tổ của nền sư phạm cận đại” đã có nhiều đóng góp lớn cho nền giáo dục thế giới. Ông đặc biệt chú trọng đến việc “kết hợp học tập ở trên lớp và hoạt động ngoài lớp nhằm thoát khỏi hình thức học tập giam hãm trong bốn bức tường của hệ thống nhà trường giáo hội thời trung cổ”. Ông khẳng định “học tập không phải là lĩnh hội những kiến thức trong sách vở mà còn lĩnh hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất, cây sồi, cây dẻ…” [dẫn theo 20].
Robert Owen (1771 - 1858) - nhà giáo dục ngƣời Anh đã xây dựng một hệ thống giáo dục hoàn chỉnh trong công xƣởng cho ngƣời lao động từ ấu thơ đến lúc trƣởng thành. Ông chủ trƣơng “kết hợp dạy học với lao động sản xuất, kết hợp giáo dục trong trường lớp với giáo dục trong lao động và hoạt động xã hội” [dẫn theo 13]. John Dewey (1859-1952) đƣợc đánh giá là nhà lí luận giáo dục có ảnh hƣởng nhất của thế kỉ XX đã đƣa ra quan niệm “học qua làm, học bắt đầu từ làm”, “dạy học tốt nhất là sự học tập trong cuộc sống, con người không ngừng thu lượm kiến thức và cải tổ kiến thức thành kinh nghiệm nên trẻ em phải học trong chính cuộc sống xã hội”. Theo quan niệm của John Dewey, “dạy học phải giao việc cho HS làm chứ không phải giao vấn đề cho HS học.
Những tri thức HS đạt đƣợc thông qua làm mới là tri thức thật vì vậy ông chủ trƣơng đƣa ra các loại bài tập về nghề làm vƣờn, nghề dệt, nghề mộc… vào nhà trƣờng. Đây là những bài tập có khả năng phát triển hứng thú và năng lực vừa cho HS kinh nghiệm từ thực tiễn. Phân tích vai trò của kinh nghiệm, ông cho rằng trẻ em học hỏi từ kinh nghiệm là hết sức cần thiết, giúp cho các em giải quyết những khó khăn trong các tình huống mà trẻ sẽ gặp trong cuộc sống hàng ngày. Nghĩa là trẻ tự điều chỉnh hành vi trên cơ sở kinh nghiệm có trƣớc và hình thành kinh nghiệm mới” [23].
Nhƣ vậy, John Dewey là ngƣời đề cao kinh nghiệm cá nhân trong hoạt động học tập, học tập là quá trình kết hợp kinh nghiệm với kiến thức HS tiếp thu đƣợc thông qua quan sát và hành động. 8 Trong công trình Kinh nghiệm và giáo dục, Dewey đã làm sáng tỏ “ý nghĩa của kinh nghiệm cá nhân và mối quan hệ giữa kinh nghiệm cá nhân người học với hoạt động dạy học”. Tác giả đƣa ra triết lí dạy học đề cao vai trò của kinh nghiệm, Dewey cũng chỉ ra rằng “những kinh nghiệm có ý nghĩa giáo dục giúp nâng cao hiệu quả dạy học bằng cách kết nối người học và những kiến thức được học với thực tiễn. Nhà trường phải có nhiệm vụ tạo ra những điều kiện tốt nhất để người học phát huy tối đa năng lực của mình, tạo dựng kiến thức cho mình bằng toàn bộ công cụ của chính mình như: đôi mắt, đôi tai, đôi tay, đôi chân và đặc biệt là tư duy” [23].
Nhà trƣờng và GV cần tạo ra một môi trƣờng để HS có thể phát triển toàn diện khả năng của mình khi tham gia vào đời sống xã hội. HS tự tìm ra kiến thức, kĩ năng thông qua “kinh nghiệm”, “tƣ duy” và “trải nghiệm” của chính bản thân, HS đƣợc khuyến khích tham gia các hoạt động học tập một cách chủ động, sáng tạo. David Kolb (sinh năm 1939) là một học giả ngƣời Mỹ, đƣợc biết đến nhƣ một nhà nghiên cứu về lí thuyết giáo dục đã có sự kế thừa và phát triển lí thuyết HĐTN của các tác giả đi trƣớc, “học tập là một quá trình mà ở đó tri thức được tạo ra thông qua sự biến đổi, chuyển hóa kinh nghiệm”. Đó là quá trình “người học thông qua hành động tạo ra tri thức mới trên cơ sở trải nghiệm thực tế”.
Kolb đƣa ra 6 đặc điểm của quá trình học từ trải nghiệm: “Việc học tốt nhất cần chú trọng đến quá trình chứ không phải kết quả; Học là một quá trình liên tục trên nền tảng kinh nghiệm; Học tập đòi hỏi việc giải quyết xung đột giữa lí thuyết với thực tiễn cuộc sống; Học tập là một quá trình thích ứng với thực tiễn cuộc sống; Học tập là sự kết nối giữa con người với môi trường; Học tập là quá trình kiến tạo ra tri thức, là kết quả của sự chuyển hóa giữa kiến thức xã hội và kiến thức cá nhân” [24; tr. Đóng góp lớn nhất của Kolb là đƣa ra mô hình học tập trải nghiệm gồm 4 giai đoạn.