phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo luận văn dự kiến được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động dạy học môn Toán lớp 4 ở trường tiểu học theo hướng tạo cơ hội thử nghiệm. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán lớp 4 tại các trường tiểu học trên địa bàn phường Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội theo hướng tạo cơ hội thử nghiệm. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán lớp 4 tại các trường tiểu học trên địa bàn phường Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội theo hướng tạo cơ hội thử nghiệm. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 4 Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC THEO HƢỚNG TẠO CƠ HỘI THỬ NGHIỆM 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về hoạt động dạy học môn Toán ở trường tiểu học theo hướng tạo c hội thử nghiệm Đề tài “Thực trạng tổ chức Học thông qua chơi tạo cơ hội thử nghiệm cho học sinh trong môn Toán lớp 2 ở các trường tiểu học thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ” của Mai Thảo Quyên (2022) [8]. Đề tài đã thực hiện khảo sát, nghiên cứu về nhận thức, thái độ cũng như việc tổ chức Học thông qua Chơi nhằm tạo cơ hội thử nghiệm cho học sinh trong môn Toán lớp 2, thấy rằng, hầu hết các bộ quản lí, giáo viên tại hai nhà trường đã nhận thức khá tốt về ý nghĩa, vai trò, lợi ích cũng như cách thức tổ chức, về sự cần thiết phải tổ chức hoạt động Học thông qua chơi trong nhà trường. Các trường đã tổ chức một số hoạt động phù hợp với học sinh nhằm thu hút sự tham gia của các lực lượng bên trong và bên ngoài nhà trường, bước đầu có tác dụng tích cực, giúp học sinh rèn luyện và hình thành nhân cách.
Tuy nhiên, qua nghiên cứu, đánh giá từ thực trạng cho thấy, thực tiễn tổ chức học tạo cơ hội thử nghiệm trong dạy học ở tiểu học vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập do nhận thức chưa đúng mức. Vì vậy, cần củng cố và mở rộng hiểu biết của cán bộ quản lí, giáo viên về học tạo cơ hội thử nghiệm ở cấp Tiểu học. Yêu cầu đặt ra là giáo viên cần có biện pháp và hình thức tổ chức cho phù hợp với học sinh để hoạt động học tạo cơ hội thử nghiệm mang lại hiệu quả cao nhất, tạo cho học sinh nhiều cơ hội thử nghiệm nhất. Theo Coleman (1976) trong “Quản lý giáo dục” [4], người học thay vì tìm cách hiểu và đồng hóa thông tin dựa trên lời nói, chữ viết, thì trong hoạt 7 động học tập thử nghiệm người học phải đưa ra được nghĩa, ý nghĩa của cái mà họ trải nghiệm, họ thực hiện, họ học đồng thời với nghĩa, ý nghĩa của các kiến thức mà họ chiếm lĩnh được, xây dựng được khi họ cảm thấy các kiến thức này có ích, có giá trị với bản thân.
Đối với môn Toán ở trường tiểu học, nhiều công trình nghiên cứu của nhiều chuyên gia cũng đã đề cập ít nhiều về phương diện quản lý quá trình dạy học môn Toán sao cho có hiệu quả nhất. Tiêu biểu có thể kể đến một số công trình nghiên cứu có giá trị như: Phương pháp dạy học môn Toán của tác giả Nguyễn Bá Kim (2007); Vận dụng lý luận vào thực tiễn dạy học môn Toán của tác giả Bùi Văn Nghị (2009); các công trình của tác giả Trần Phương, Trần Văn Hạo, Võ Đại Mau… Cách tiếp cận dựa trên quan điểm của Hans Freudenthal (1905 - 1990) cho rằng toán học là hoạt động của con người. Lớp học toán không được coi là nơi chuyển giao kiến thức Toán học từ giáo viên đến học sinh mà là nơi học sinh có thể phát minh lại các ý tưởng và quan niệm toán học thông qua khám phá các vấn đề thực tế. Toán học được coi là hoạt động của con người bắt đầu bằng việc giải quyết vấn đề.
Học sinh không nên được coi là người nhận thụ động mà nên được đưa ra cơ hội để phát minh lại các ý tưởng và khái niệm toán học dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Sự tái tạo được phát triển thông qua việc học hỏi hàng ngày thực tế khác nhau, cuộc sống hàng ngày, môi trường xung quanh, thậm chí các môn học khác. Nó được sử dụng như một điểm khởi đầu để học toán. Để chứng minh rằng quá trình quan trọng hơn kết quả, một thuật ngữ “toán hóa” được sử dụng trong RME để chỉ một ph p toán hóa quá trình bối cảnh thực tế.
Mô hình toán học hóa thực sự được giới thiệu vào nhà trường là nghiên cứu của Pollak năm 1979. Pollak cho rằng dạy cho học sinh cách sử dụng toán trong cuộc sống hàng ngày chính là nhiệm vụ cao cả của giáo dục toán học. Công việc chính là giáo dục toán học thực tế (RME). RME phát triển các khái niệm về cuộc sống hàng 8 ngày.
Rất nhiều quốc gia ở Hoa và Châu Phi đã sử dụng RME trong giáo dục toán học. Các nghiên cứu đã được thực hiện ở một số quốc gia, kể cả các quốc gia đang phát triển như Indonesia chứng minh rằng RME là cách tiếp cận đầy hứa hẹn đối với việc sửa chữa và cải thiện hiểu biết của học sinh về các khái niệm toán học [9]. Nhà sư phạm vĩ đại J.Comenxki, người sáng lập ra hình thức tổ chức dạy - học lớp bài, đưa ra những yêu cầu cải tổ nền giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học. Theo ông, dạy học phải làm như thế nào để người học tự tìm tòi, suy nghĩ để tự nắm bắt lấy bản chất của sự vật và hiện tượng.
Tiếp theo đó, John Dewey, nhà sư phạm người Mỹ, đã đề cao hoạt động đa dạng của học sinh, đặc biệt là hoạt động thực tiễn để bổ sung vào kiến thức của học sinh ngoài sách giáo khoa và lời giảng của giáo viên. Ông đặc biệt chú ý đến hoạt động học khi viết: “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục, nói không phải là dạy, nói ít hơn, chú ý nhiều đến việc tổ chức hoạt động của học sinh”. Đây là ý tưởng khởi nguồn cho triết lý “Lấy học sinh làm trung tâm trong giáo dục”. Có thể thấy quan điểm của J.Comenxki và John Dewey là dạy học theo hướng tạo cơ hội thử nghiệm cho HS mặc dù chưa có nghiên cứu cụ thể nào về việc tổ chức thực hiện và quản lý các hoạt động dạy học theo hướng tạo cơ hội thử nghiệm cho HS.Kolb (1984) và Serre (1995) [13], hoạt động học tập thử nghiệm dựa trên hai tương tác giữa kiến thức và sự thử nghiệm, đó là kiến thức được rút ra từ chính nguồn gốc của sự thử nghiệm của người học và giá trị, ý nghĩa của kiến thức lại được xác nhận qua sự thử nghiệm mới của người học.
Quá trình này tạo thành một vòng lặp giữa kiến thức và sự trải nghiệm. Kiến thức mới luôn được hình thành qua sự thử nghiệm và sự thử nghiệm mới lại là môi trường để xây dựng kiến thức mới. Do đó, bản chất của mô hình chính là tổ chức hoạt động học tập dựa trên các hoạt động, hành động để 9 người học tự kiến tạo kiến thức cho bản thân, và qua hoạt động, hành động để người học lại vận dụng, áp dụng được kiến thức vào thực tiễn để xây dựng, hình thành kiến thức mới. Trong những năm gần đây đứng trước nhiệm vụ đổi mới GD và ĐT nói chung và đổi mới hoạt động dạy học nói riêng, đã có nhiều nhà nghiên cứu khoa học trong đó có những nhà GD, nhà tâm lý học đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề đổi mới quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, gắn khoa học với thực tiễn, lấy HS làm trung tâm trong hoạt động dạy học như: (Phạm Minh Hạc, 1986), (Bùi Văn Quân, 2007).
Các nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường tiểu học theo hướng tạo c hội thử nghiệm Đề tài “Quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường TH Quốc Oai Thành phố Hà Nội” của tác giả Phạm Văn Long năm 2016, Học viện quản lý giáo dục; Tuy nhiên, việc quản lý HĐDH môn Toán theo hướng tạo cơ hội thử nghiệm rất ít được đề cập đến, đặc biệt là tại các trường TH Quốc Oai, vấn đề này chưa được tác giả nào đề cập tới. Xác định vấn đề này để nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của các các nhà trường nói chung và chất lượng công tác quản lý dạy học môn Toán theo hướng tạo cơ hội thử nghiệm cho học sinh ở trường TH Quốc Oai Thành phố Hà Nội nói riêng. - Sự hình thành và phát triển của xu hướng dạy học theo hướng tạo cơ hội thử nghiệm. Tiếp cận NL trong giáo dục nói chung, dạy học nói riêng được hình thành, phát triển rộng khắp ở Mỹ vào những năm 1970 và trở thành một phong trào với những nấc thang mới trong những năm 1990 ở Anh, Úc, New Zealand, xứ Wales.
Sở dĩ có sự phát triển mạnh mẽ này là do rất nhiều học giả và các nhà thực hành phát triển nguồn nhân lực xem tiếp cận NL là cách thức có ảnh hưởng nhiều nhất, được ủng hộ mạnh mẽ nhất để cân bằng giáo dục và quá trình dạy học, là cách thức để chuẩn bị lực lượng lao động cho 10 một nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu [2] và là một câu trả lời mạnh mẽ đối với những vấn đề mà các nhà trường, cá nhân, tổ chức đang phải đối mặt trong thế kỷ XXI [9]. Đặc trưng và ưu thế của dạy học theo hướng tạo cơ hội thử nghiệm; thiết kế chương trình dạy học theo hướng tạo cơ hội thử nghiệm. Đây là phương diện thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhất là từ sau khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 BCH Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT. Có thể kể ra đây một số nghiên cứu của các tác giả Đỗ Ngọc Thống; Lương Việt Thái, Nguyễn Công Khanh… Theo các tác giả, chương trình dạy học truyền thống được xem là chương trình định hướng nội dung; chú trọng việc truyền thụ cho người học hệ thống tri thức khoa học về các lĩnh vực khác nhau.
Còn chương trình dạy học theo hướng tạo cơ hội thử nghiệm là chương trình định hướng kết quả đầu ra, nhằm mục tiêu phát triển NL người học. Chất lượng đầu ra, có thể coi là sản phẩm cuối cùng của quá trình dạy học.