phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở trƣờng tiểu học Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở các trƣờng tiểu học huyện Chƣ Păh tỉnh Gia Lai Chƣơng 3: Biện pháp quản lý đổi mới hoạt động dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở các trƣờng tiểu học huyện Chƣ Păh tỉnh Gia Lai 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI Ở CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Sự tích cực hóa trong các hoạt động học tập là một quan điểm mà đƣợc rất nhiều nhà giáo dục, nhà nghiên cứu hƣớng đến. Từ nửa đầu thế kỷ XX, T.Makiguchi (Nhật Bản) đã nêu lên sự thay đổi vai trò của ngƣời thầy trong quá trình dạy học.
Dạy học phải hƣớng vào ngƣời học, dạy học cần tích cực, biến quá trình dạy học thành quá trình tự học. Xu thế dạy học trong giai đoạn hiện nay hoàn toàn phù hợp với tƣ tƣởng này. Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà quản lý nƣớc ngoài đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động dạy học môn TN&XH theo định hƣớng phát triển phẩm chất và năng lực nhƣ: Theo nhà giáo dục ngƣời Ý Maria Montessori: “Giáo dục là một quá trình tự nhiên đƣợc thực hiện bởi trẻ nhỏ và không đạt đƣợc nhờ lắng nghe mà nhờ trải nghiệm trong môi trƣờng”. Quan điểm của bà đã chỉ ra, muốn quá trình giáo dục có hiệu quả thì học sinh cần có những thực hành, trải nghiệm thực tế trong môi trƣờng TN&XH xung quanh các em, nó không dừng lại ở việc lắng nghe và tiếp thu mà cần có những vận dụng thực tế vào cuộc sống.Rousseau – Nhà triết học khai sáng Pháp (1717-1778) đã nhấn mạnh phƣơng pháp giáo dục với chủ trƣơng giáo dục trẻ em một cách tự nhiên và ngƣời học sẽ tự khám phá và tích lũy kiến thức qua chính hoạt động của mình.
Cuối thế kỷ XIV, J.Cômenki (1592 - 1670), ông đã đƣa ra quan điểm giáo dục về việc tập cho học sinh tinh thần tự học, phải biết thích ứng với tự nhiên. Bởi theo ông: “Hoạt động dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức đối với quá trình học tập của học sinh là phải dựa vào sự vật, hiện tƣợng do học sinh tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên bắt buộc, gò ép học sinh chấp nhận bất kì một điều gì” [4]. Nên nhà quản lý cần tìm ra phƣơng pháp cho giáo viên có thể dạy ít hơn và học sinh đƣợc học nhiều hơn để phát huy tối đa năng lực tự chủ, tự học của học sinh trong quá trình học tập. Trƣớc đó nhà nghiên cứu ngƣời Mỹ - John Dewey (1859-1952), cũng có quan điểm phải dựa vào kinh nghiệm thực tế của học sinh.
Ông đã nêu: “Hãy cho ngƣời học trò điều để làm, chứ không phải điều để học; và đặc tính của hành động là đòi hỏi tƣ duy; việc học sẽ tự nhiên mang lại kết quả. Hoạt động dạy học của giáo viên phải kích thích đƣợc hứng thú học tập của học sinh, phải để học sinh độc lập tìm tòi từ thế giới TN&XH xung quanh các em, thầy giáo vừa là ngƣời thiết kế vừa là ngƣời cố vấn để các em hoàn thành nhiệm vụ học tập. Theo nhà nghiên cứu Robetrt. EPolloce 6 (2011), trong nghiên cứu “Các PPDH hiệu quả” đã khẳng định: PPDH hiểu quả để phát triển năng lực học sinh là phƣơng pháp khích lệ học tập và công nhận những cố gắng của học sinh.
Để phát triển năng lực học trong dạy học, ngƣời giáo viên cần quan tâm các mặt của ngƣời học và lựa chọn PPDH linh hoạt. Hệ thống giáo dục của cộng hòa liên bang Đức là một hệ thống đƣợc phân chia rõ ràng dựa theo năng lực của ngƣời học; Một trong những đặc tính của giáo dục nƣớc Đức đó là tính bình đẳng giữa các học sinh, trong lớp học khống có lớp trƣởng, lớp phó mà chỉ có “phát ngôn viên” để chuyển thông điệp của thầy và học sinh đến với nhau. “Phát ngôn viên” còn đƣa ra các giải pháp, phong trào nhằm cải thiện tình hình học tập, giúp các bạn học lực yếu phát huy các tài năng văn nghệ, thể thao trong lớp,… chú trọng trải nghiệm thực tế [7. Không chỉ những nƣớc phƣơng Tây quan tâm đến hoạt động dạy học, quản lý hoạt động dạy học trong nhà trƣờng mà cả những nƣớc ở Châu Á cũng rất quan tâm đến hoạt động này nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục của nƣớc mình, nhƣ: Với quan niệm con ngƣời là nguồn lao động của đất nƣớc, muốn đất nƣớc phát triển cần đào tạo một lực lƣợng lao động hùng hậu, chất lƣợng.
Nhật Bản đầu tƣ mạnh mẽ cho giáo dục. Nhật Bản là nƣớc có mô hình giáo dục tiên tiến nhờ việc hƣớng đến tính tự lập và tinh thần kỷ luật cứng rắn cho học sinh ngay khi còn bé. Nền giáo dục thực hiện tiêu chí “Giáo dục đạo đức là cốt lõi”, nên nhà trƣờng luôn tạo cơ hội kích thích cho học sinh đƣợc vận động, phát huy tính sáng tạo qua những trải nhiệm thực tế từ thế giới TN&XH mà không nhồi nhét kiến thức lý thuyết một cách gò bó. Và không đặt nặng vấn đề thi cử, điểm số nhƣ ở một số nƣớc.
Việc kiểm tra đánh giá với mục đích giám sát hiệu quả hệ thống giáo dục của đất nƣớc chứ không để đánh giá năng lực của học sinh. [29] Bên cạnh đó phải nhắc đến nền giáo dục của Singapore – một trong số các nƣớc Châu Á đƣợc công nhận là một trong hai nƣớc Châu Á (cùng với Nhật Bản) đƣợc công nhận nằm trong Top 20 quốc gia có nền giáo dục tốt tốt nhất toàn cầu (Theo U. News & World Report 2019). Hệ thống giáo dục của Quốc đảo Sƣ tử phát triển theo hƣớng linh hoạt, đa dạng, đảm bảo chất lƣợng giáo dục cao.
Chƣơng trình mới của Singapore đƣợc xây dựng theo định hƣớng phát triển 6 năng lực: “Tôn trọng, trách nhiệm, chính trực, chu đáo, kiên cƣờng, hòa đồng”. Giáo dục các cấp tập trung vào hoạt động ngoại khóa và chƣơng trình học tập năng động, khẳng định là “một thành phần cốt lõi của toàn bộ trải nghiệm ở nhà trƣờng” [9]. Các hoạt động dạy học luôn gắn liền với thực tiễn, thực hành trải nghiệm về thế giới tự nhiên xung quanh. Điều này giúp ngƣời giáo viên có thể phát hiện năng lực của học sinh từ đó bồi dƣỡng các em theo đúng sở thích, năng khiếu, điểm mạnh của mình.
Hệ thống trƣờng học tại Singapore khuyến khích làm việc theo dự án và tƣ duy sáng tạo, các lớp học tập trung vào trang bị cho học sinh các kỹ năng và kiến thức để giải quyết vấn đề cụ thể của từng môn học. Mục tiêu của chƣơng 7 trình giảng dạy là cung cấp cho ngƣời học kiến thức, kỹ năng thực tế để giải quyết các tình huống trong thực tế. Để giảm bớt áp lực cho học sinh thì năm 2017, các cơ quan quản lý giáo dục đã ngừng liệt kê những học sinh đạt điểm cao nhất trong các kỳ thi. Tóm lại, mỗi nhà nghiên cứu đều có riêng những quan điểm khác nhau về hoạt động dạy học, cách quản lý các hoạt động đó nhƣng tất cả các nghiên cứu đều nhấn mạnh tầm quan trọng và chỉ ra những PPDH, quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học thông qua những trải nghiệm thực tiễn từ thế giới tự nhiên xung quanh cuộc sống của học sinh để công tác quản lý hoạt động dạy học mang lại hiệu quả giáo dục cao.
Các nghiên cứu trong nước Chƣơng trình GDPT 2018 đƣợc ban hành và xây dựng theo quan điểm giáo dục là định hƣớng phát triển phẩm chất và năng lực ngƣời học. Các em đƣợc chủ động, tích cực hóa trong quá trình học tập, trong khi giáo viên có vai trò tổ chức, hƣớng dẫn, tạo môi trƣờng học tập thân thiện và các tình huống có vấn đề để khuyến khích học sinh tích cực vận động tìm ra cách giải quyết vấn đề. Trong gần 3 năm thực hiện Chƣơng trình GDPT 2018, nhà trƣờng phổ thông đã triển khai những phƣơng pháp giáo dục mới (nhƣ mô hình trƣờng học mới, phƣơng pháp bàn tay nặn bột, giáo dục STEM,…) hầu hết giáo viên đƣợc làm quen và đã vận dụng thành thạo các phƣơng pháp vào quá trình dạy học [12]. Trƣớc yêu cầu đổi mới của GD-ĐT là sự đổi mới về PPDH, có nhiều nghiên cứu ở trong nƣớc đã đề cập đến dạy học tích hợp, các nhà nghiên cứu đã đi sâu vào nghiên cứu vấn để đổi mới nội dung dạy học lấy ngƣời học làm trung tâm trong hoạt động dạy học và nghiên cứu về các biện pháp giúp nâng cao chất lƣợng dạy học các môn học tại nhà trƣờng với các nghiên cứu nhƣ: Phƣơng pháp luận khoa học của Phạm Minh Hạc; Một số vấn đề lý luận và thức tiễn của Trần Kiểm,… Nghiên cứu Giáo dục phát triển năng lực sáng tạo, tác giả Trần Thị Bích Liễu cho rằng: Chất lƣợng giáo dục không chỉ đơn thuần là kiến thức khoa học mà còn là sự phát triển tiềm năng của ngƣời học cụ thể là năng lực sáng tạo.
Để có một nền giáo dục sáng tạo thì cần có một nhà trƣờng sáng tạo do các giáo viên sáng tạo giảng dạy và do những ngƣời lãnh đạo sáng tạo lãnh đạo [19], [21], [23].