CHƯƠNG 1: THÁCH THỨC & XU HƯỚNG QUẢN TRỊ KINH DOANH HIỆN ĐẠI Challenges and modern business management trends Mục tiêu chương Sau khi nghiên cứu xong chương này, người học có thể: - Khái quát hóa sự phát triển của các tư tưởng quản trị hiện đại trong thế kỷ 20. - Hiểu và xác định rõ những thách thức chính trong môi trường quản trị hiện đại ảnh hưởng đến sự hoạt động của tổ chức. - Nhận diện, phân tích những xu hướng và công cụ quản trị mới cần quan tâm tại các doanh nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay. Giới thiệu chương Bối cảnh cạnh tranh trong toàn cầu trên nền tảng số hoá đã làm cách thức quản trị một tổ chức cần phải đổi mới kịp thời để đáp ứng yêu cầu.
Sức ép đổi mới này là động lực thúc đẩy khoa học quản trị phải liên tục được hoàn thiện hơn để làm tiền đề cho một trào lưu phát triển kinh tế số trên toàn thế giới. Trong bối cảnh hiện nay, các nhà nghiên cứu lý thuyết quản trị và các nhà thực hành quản trị phải đối diện với nhiều thách thức trong việc đưa ra các quyết định quản trị cũng như trong quá trình thực hiện các chức năng quản trị để điều hành doanh nghiệp. Những thách thức đó mở ra nhiều cơ hội, tuy nhiên cũng đem lại sự đe dọa đối với hoạt động và vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Cụ thể, các thách thức liên quan đến các vấn đề phức tạp và luôn vận động thay đổi như xây dựng năng lực cạnh tranh, xác định rõ tầm nhìn và sứ mệnh., tái cấu trúc tổ chức trong điều kiện mới, tạo ra môi trường làm việc hấp dẫn cho nhân viên, tiến hành đổi mới trong công việc của mỗi người, sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ, toàn cầu hóa, và đạo đức và trách nhiệm với xã hội.
Nhiệm vụ các nhà quản trị cần xác định rõ những xu hướng ưu tiên trong tác nghiệp mà cụ thể là mười xu hướng đang được nghiên cứu và áp dụng trong quản trị kinh 2 doanh, những xu hướng này phát triển theo tình hình mới giúp cho các tổ chức phản ứng và hoạt động hiệu quả trong bối cảnh môi trường hiện nay. Khái quát quá trình phát triển các tư tưởng quản trị hiện đại Việc nhận ra rằng những lý thuyết quản trị được ứng dụng trong hơn 100 năm qua đang đi tới điểm tới hạn, đã đến lúc cần chủ động nghiên cứu và ứng dụng các phương thức quản trị mới để tạo lợi thế cạnh tranh và đây là tiền đề căn bản để phát triển bền vững một tổ chức trong bối cảnh mới. Qua các giai đoạn lịch sử phát triển khác nhau với những cách tiếp cận đa dạng các tác giả quản trị đã giải quyết khá tốt việc nâng cao năng suất lao động trong các tổ chức doanh nghiệp. Môi trường quản trị trong từng giai đoạn là bối cảnh cụ thể để nghiên cứu, kiểm chứng và ứng dụng những lý thuyết quản trị mới.
Môi trường quản trị hiện nay, có những yếu tố nổi trội tác động mạnh mẽ đến hoạt động quản trị, chúng là những thách thức của quản trị hiện đại, trong chúng vừa có ý nghĩa như là rào cản và vừa có ý nghĩa là chất kích thích cho sự nỗ lực vượt qua. Như Gary Hamel (2007) từng nhận định, môi trường mà các doanh nghiệp thế kỷ XXI đối mặt bất ổn định hơn bao giờ hết. Trong thế kỷ mới này đã xuất hiện vô số thách thức quản trị lớn và có phần khác biệt so với những thách thức từng đè nặng lên các bậc tiền bối quản trị, không gian số hoá đang tạo nên những thách thức lớn chưa từng có tiền lệ và những giới hạn trong nó để con người có thể tưởng tượng và liên kết giữa thực tế và ảo là vô cùng lớn. Những nhà tuyển dụng trong thời đại mới luôn tìm kiếm những nhà quản trị có tầm nhìn và khả năng đương đầu những tình huống mới mẻ khó khăn một cách linh hoạt uyển chuyển, cũng như sự đam mê và kĩ năng ra quyết định nhanh chóng để đương đầu với những thách thức.
Để hiểu rõ hơn những vấn đề trên, chương này sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp để hệ thống lại những thách thức chính đối với quản trị hiện đại trong giai đoạn đầu thế kỉ 3 XXI bên cạnh đó phần cuối chương được lập luận và đề xuất những xu hướng quản trị trong kinh doanh cần phải nghiên cứu và ứng dụng tại các doanh nghiệp. Hơn 100 năm qua, cùng với những thay đổi môi trường quản trị liên quan đến nhiều vấn đề như xã hội, kinh tế, chính trị, pháp luật, khoa học kĩ thuật, môi trường tự nhiên, môi trường cạnh tranh và môi trường nội bộ, các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng được thiết kế và điều phối thích hợp để duy trì tồn tại và phát triển. Taylor với cách tiếp cận khoa học trong nghiên cứu và ứng dụng lý thuyết quản trị đã đem lại nhiều thành công trong thực tế quản trị công việc, cụ thể năng suất lao động của công nhân tăng gần 3 lần. những giá trị này đến bây giờ vẫn còn nguyên, tuy nhiên về sau lý thuyết của Taylor được cho là có nhiều hạn chế như: Chỉ áp dụng thích hợp cho môi trường ổn định, quá chú trọng nhu cầu kinh tế và chú trọng yếu tố kỹ thuật, coi con người như một bộ phận trong một cỗ máy mà chưa chú ý những nhu cầu xã hội, tâm lý của người lao động.
Henry Fayol đã đi đầu trong việc đề xướng phương pháp quản trị quá trình từ đầu thế kỷ 20, tuy nhiên tư tưởng của ông thực sự chỉ phát triển mạnh từ năm 1960 do công của Harold Koontz và các đồng sự. Tư tưởng này cho rằng quản trị là một quá trình liên tục của các chức năng quản trị đó là hoạch định, tổ chức, nhân sự, lãnh đạo và kiểm tra. Từ khi được Koontz phát triển thì phương pháp quản trị quá trình này đã trở thành một lĩnh vực được chú ý nhất, và rất nhiều các nhà quản trị từ lý thuyết đến thực hành đều ưa chuộng. Theo phương pháp này thì quản trị được xem là “quá trình” dù xét theo nhiều góc độ khác nhau như góc độ quản trị tổ chức, quản trị công việc, quản trị các hoạt động và quản trị sản xuất.
Max Weber, nhà xã hội học nổi tiếng người Đức và là một người cùng thời với Taylor, ông cho rằng: “Kinh nghiệm cho thấy loại hình tổ chức hành chính quan liêu có nhiều cấp bậc, phân định trách nhiệm rõ ràng là đem lại hiệu quả cao nhất và theo quan điểm này thì việc thực hiện kiểm soát là bắt buộc đối với con người là cần thiết, việc 4 thực hiện nó cần phải tập trung vào tính chính xác, tính ổn định, tính kỷ luật chặt chẽ, và tính đáng tin cậy. Cách thức này, nó giúp nâng cao vượt bậc khả năng đo lường các kết quả …” Những giới hạn của nhóm tư tưởng Henry Fayol - Max Weber được chỉ sơ bộ như: Các tư tưởng được thiết lập trong một tổ chức ổn định, ít thay đổi, quan điểm quản trị cứng rắn, ít chú ý đến con người và xã hội nên dễ dẫn tới việc xa rời thực tế. Do vậy, vấn đề quan trọng là phải biết cách vận dụng các nguyên tắc quản trị cho phù hợp với các yêu cầu thực tế, chứ không phải từ bỏ các nguyên tắc đó. Phương pháp tình huống ngẫu nhiên với Fiedler là tác giả đại diện cho rằng cần phải kết hợp giữa các lý thuyết quản trị trên đây với vận dụng thực tiễn cụ thể là các tình huống quản trị, còn gọi là điển cứu quản trị.
Phương pháp tình huống ngẫu nhiên muốn kết hợp vào thực tế bằng một cách hội nhập những nguyên tắc quản trị vào trong khuôn khổ hoàn cảnh. Nó được xây dựng trên luận đề “nếu có X thì tất có Y nhưng phụ thuộc vào điều kiện Z”. Phương pháp tình huống ngẫu nhiên được cho là hợp lý theo trực giác, vì các tổ chức khác biệt nhau về kích thước, mục tiêu, nhiệm vụ, do vậy khó có thể có những nguyên lý chung áp dụng một cách khái quát, và vì vậy khi áp dụng vào thực tế, nhà quản trị cần phải có một sự am hiểu sâu sắc về lý thuyết và thực hành. Một lý thuyết hiện đại khác là lý thuyết Z, được một giáo sư người Mỹ gốc Nhật Bản tên là William Ouchi (1982) xây dựng trên cơ sở áp dụng cách quản lý của Nhật Bản trong các công ty Mỹ.
Lý thuyết ra đời năm 1978, chú trọng đến quan hệ xã hội và yếu tố con người trong tổ chức. Lý thuyết Z có các đặc điểm: công việc dài hạn, quyết định thuận hợp, trách nhiệm cá nhân, xét thăng thưởng chậm, kiểm soát kín đáo bằng các biện pháp công khai, quan tâm đến tập thể và cả gia đình nhân viên… Lý thuyết Z có nhiều ưu điểm như giúp góp phần làm gia tăng sự hài lòng thỏa mãn của nhân viên, giảm chi phí, gia tăng năng suất lao động, tuy nhiên vẫn tồn tại một số nhược 5 điểm như: Khi công ty cung cấp việc làm trọn đời cho nhân viên để phát triển mối liên kết chặt chẽ, nó tạo điều kiện bảo mật công việc chứ không phát triển lòng trung thành của nhân viên, mặt khác nó không thúc đẩy nhân viên phát triển nhu cầu cao hơn, tạo ra động lực làm việc thấp, tạo nên sức ỳ tâm lý và trì trệ công việc. Việc duy trị một tổ chức theo lối văn hoá truyền thống làm cho có sự tham gia của nhân viên vào giải quyết các vấn đề là thiếu tính chủ động. Lý thuyết Z dựa trên thực tiễn quản lý từ văn hóa độc đáo của Nhật Bản, do đó, khó có thể không được áp dụng trong các nền văn hóa khác nhau.
Theo Masaaki Imai (1997) lý thuyết Kaizen bắt nguồn từ Kaizen là một thuật ngữ kinh tế xuất hiện cách đây hơn 50 năm của người Nhật dùng để ám chỉ sự cải tiến liên tục quá trình làm việc, nâng cao năng suất. Lý thuyết này được xây dựng trên hai yếu tố cơ bản là: sự cải tiến (thay đổi để tốt hơn) và sự liên tục (mang tính duy trì). Thiếu một trong hai yếu tố trên thì không thể coi là Kaizen.