Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Toán tại các trƣờng Tiểu học theo hƣớng phát triển năng lực giao tiếp toán học. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán tại các trƣờng Tiểu học thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam theo hƣớng phát triển năng lực giao tiếp toán học. Chương 3: Các giải pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán tại các trƣờng Tiểu học thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam theo hƣớng phát triển năng lực giao tiếp toán học. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP TOÁN HỌC 1.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Quản lý dạy học môn Toán là một trong những vấn đề đƣợc xã hội quan tâm từ xa xƣa đến nay, do Toán học là một lĩnh vực nền tảng, quan trọng áp dụng vào sự phát triển của nhân loại. Quản lý hoạt động dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực là một trong những nhân tố có ảnh hƣởng lớn đến việc nâng cao chất lƣợng giáo dục – đào tạo của một cơ sở giáo dục. Đã có nhiều tác giả, các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến lý luận dạy học, phƣơng pháp dạy học,. Nhà sƣ phạm vĩ đại J.Comenxki (1592-1670), trong tác phẩm "Phép giáo huấn vĩ đại (1632), mang lại những tƣ tƣởng giáo dục vƣợt thời đại về lí luận dạy học và giáo dục; là một tác phẩm có tính chất kinh điển đầu tiên ở châu Âu về hệ thống tri thức khoa học giáo dục, đánh dấu giáo dục học tách ra khỏi triết học và trở thành một khoa học độc lập.
ng đƣa ra những yêu cầu cải tổ nền GD theo hƣớng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của ngƣời học. Theo ông, dạy học thế nào để ngƣời học thích thú học tập và có những cố gắng bản thân để nắm lấy tri thức. ng nói: “Tôi thƣờng bồi dƣỡng cho học sinh của tôi tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng tri thức vào thực tiễn”. ng còn viết: “GD có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách…Hãy tìm ra phƣơng pháp cho GV dạy ít hơn, HS học đƣợc nhiều hơn”.
Trong thế k XX, John Dewey (1859 – 1952) là một trong những nhà nhà triết học lớn nhất nƣớc Mỹ nửa đầu thế kỉ XX, đồng thời là nhà tâm lý học, nhà giáo dục vĩ đại, đã có đóng góp lớn lao vào công cuộc cải cách giáo dục của nhân loại. Tƣ tƣởng triết học và sự nghiệp giáo dục đồ sộ của John Dewey đã có ảnh hƣởng to lớn làm thay đổi nền giáo dục Mỹ suốt thế k XX và sang cả thế k XXI. John Dewey đã dành trọn cuộc đời của mình cho sự nghiệp xây dựng một nền giáo dục dân chủ, vì sự tiến bộ của ngƣời học, vì lợi ích to lớn của con ngƣời, vì sự phát huytài năng, trí tuệ, đạo đức nơi mỗi cá nhân con ngƣời, nhằm xây dựng cộng đồng xã hội thực sự tốt đẹp. Tƣ tƣởng giáo dục của J.Deweycho trong cuốn "Kinh nghiệm và giáo dục" nhấn mạnh rằng: Trƣờng học không đơn thuần là nơi ngƣời lớn dạy cho tr con các bài học kiến thức và bài học luân lý.
Trƣờng học phải là một cộng đồng dân chủ trong đó mọi hoạt động đƣợc tập trung nhằm tạo ra hiệu quả cao nhất trong việc chia s cho ngƣời học di sản tri thức nhân loại và làm cho họ có thể sử dụng tài năng của mình vào mục đích xã hội. Do đó, giáo dục là một hoạt động của đời sống, là bản thân quá trình sống của tr em chứ không phải là một sự chuẩn bị cho một cuộc sống tƣơng lai mơ hồ nào đấy. Nhà trƣờng có nhiệm vụ tạo ra những điều kiện tốt nhất để cá nhân ngƣời học phát huy tối đa năng lực tiềm tàng của mình, tạo dựng kiến thức cho mình bằng toàn bộ công cụ của chính mình nhƣ: đôi mắt, đôi tai, đôi tay, đôi chân và đặc biệt là tƣ duy. Giáo viên có nhiệm vụ là một tác nhân kích thích.
Bằng việc cung cấp vật liệu, đầu mối thông tin, gợi ý, tổ chức, hƣớng dẫn…giáo viên có thể tạo ra một môi trƣờng khuyến khích sự học tập. Muốn vậy, giáo viên phải là một chuyên gia đƣợc đào tạo tốt, một ngƣời hiểu biết giáo dục toàn diện. Nội dung của giáo dục phải phản ánh sự phát triển của loài ngƣời. Nội dung phải mang tính tăng tiến.
Chƣơng trình học phải hiện đại lên cùng với sự phát triển của loài ngƣời. Phƣơng pháp dạy học phải gắn chặt với đối tƣợng và nội dung. Phƣơng pháp là phƣơng pháp của năng lực và hứng thú của tr em, của cá nhân đang trƣởng thành, chứ không phải là phƣơng pháp của ngƣời lớn- 8 những k đã trƣởng thành. Phƣơng pháp là sự trình bày rõ ràng biện pháp triển khai nội dung của một kinh nghiệm đang diễn ra để nó đem lại hiệu quả và kết quả nhiều nhất.
Bởi vậy, không thể tách rời phƣơng pháp khỏi nội dung. Trong cuốn “Phát huy tính tích cực của HS thế nào”, I.Kharlamốp đã khẳng định vai trò to lớn của tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu tri thức mới. Tác giả cho rằng: Quá trình nắm kiến thức mới không thể hình thành bằng cách học thuộc bình thƣờng các quy tắc, các kết luận khái quát quát hoá, nó phải đƣợc xây dựng trên cơ sở của việc cải tiến công tác tự lập của HS, của việc phân tích tính lôgíc sâu sắc tài liệu, sự kiện làm nền tảng cho việc hình thành các khái niệm khoa học". Sự vận động không ngừng của đời sống xã hội tất yếu dẫn đến sự đổi mới trong nội dung giáo dục và phƣơng pháp giáo dục.
Ở Việt Nam, các vấn đề có liên quan đến PPDH cũng rất đƣợc quan tâm và cũng có nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề này. Tác giả Đặng Thành Hƣng (2002), Dạy học hiện đại - Lý luận, biện pháp, kỹ thuật, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách trình bày những vấn đề lí luận về vị trí và cấu trúc của khoa học giáo dục, vấn đề cơ cấu của quá trình giáo dục theo cách tiếp cận hiện đại, đối tƣợng và mục tiêu của lí luận dạy học, bản chất của dạy học hiện đại, biện pháp và những ứng dụng, vấn đề nội dung học vấn trong lí luận dạy học, phƣơng pháp dạy học đại cƣơng và phƣơng pháp dạy học cụ thể. Bùi Văn Quân (2007) cũng đã có những nghiên cứu về quản lý trong cuốnGiáo trình Quản lý Giáo dục.
Theo đó, ngành quản lí giáo dục có chức năng là tổ chức hoạt động giáo dục và giám sát đánh giá hoạt động giáo dục. Chức năng tổ chức giúp nhà trƣờng hoạt động ổn định. Giám sát đánh giá hoạt động giáo dục giúp nhà trƣờng cải thiện chất lƣợng hoạt động giáo dục. Đổi mới, cải tiến giáo dục luôn cần tới nhà quản lí giáo dục vì mỗi điều chỉnh trong hoạt động của một bộ phận sẽ ảnh hƣởng đến bộ phần khác.
Nhà quản lí 9 giáo dục sẽ một tay sắp xếp tất cả công việc đâu ra đấy. Để quản lý giáo dục tốt, cần nắm chắc kỹ năng quản lí giáo dục và kỹ năng thực hành quản lí giáo dục đáp ứng nhu cầu quản lý, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và các hoạt động của nhà trƣờng và các cơ quan quản lý giáo dục các cấp trong và ngoài hệ thống giáo dục quốc dân. Phạm Đỗ Nhật Tiến (2016) với bài viết Bài toán đổi mới đánh giá người học trong giáo dục theo tiếp cận năng lực, trên Tạp chí Giáo dục số 216 đã đề cập đến việc đổi mới đánh giá ngƣời học trong giáo dục theo tiếp cận năng lực. Theo tác giả, giáo dục theo tiếp cận năng lực là giáo dục trong đó việc dạy, học, đánh giá và giải trình dựa trên những kết quả học tập đầu ra của chƣơng trình giáo dục, tức là dựa trên những cái mà ngƣời học biết, hiểu và có thể thực hiện sau khi kết thúc một giai đoạn học tập hoặc một đơn vị học tập.
Bên cạnh việc phân tích cụ thể bài toán đổi mới đánh giá ngƣời học, tác giả đã chỉ ra các nguyên tắc cần tuân thủ trong đánh giá, các năng lực chung và các phƣơng pháp đánh giá. Đặng Thị Thúy (2019) với nghiên cứu "Một số biện pháp phát triển năng lực giao tiếp toán học cho học sinh cuối cấp tiểu học thông qua bài toán có lời văn" trên Tạp chí Giáo dục, đã đƣa ra quan điểm về năng lực giao tiếp. Năng lực giao tiếp là khả năng trình bày, diễn đạt những suy nghĩ, quan điểm, nhu cầu, mong muốn, cảm xúc của bản thân dƣới hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với đối tƣợng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và văn hóa; đồng thời đọc hiểu, biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của ngƣời khác ngay cả khi bất đồng quan điểm. Bài viết cũng đƣa ra những đặc điểm về học sinh tiểu học, các biểu hiện của năng lực giao tiếp toán học của học sinh cuối cấp tiểu học, các biện pháp phát triển năng lực giao tiếp toán học cho học sinh cuối cấp tiểu học thông qua dạy học giải toán có lời văn… Nhìn chung, thời gian qua có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan 10 đến đề tài.
Đây là nguồn tài liệu tham khảo quý báu để tác giả nghiên cứu và xây dựng khung cơ sở lý luận cho luận văn. Hoạt động dạy học môn Toán ở trƣờng Tiểu học theo hƣớng phát triển năng lực giao tiếp toán học 1. Khái niệm dạy học môn Toán, phát triển năng lực giao tiếp toán học - Khái niệm dạy học “Dạy học là toàn bộ các thao tác có mục đích nhằm chuyển các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt đƣợc hoặc cộng đồng đã đạt đƣợc vào bên trong một con ngƣời” [17]. Một số khác dựa trên quan điểm phát triển, nhất là phát triển về khoa học và công nghệ cho rằng: “Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hƣớng giúp ngƣời học từng bƣớc có năng lực tƣ duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt đƣợc để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết đƣợc các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi ngƣời học” [13].