CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Có thể nói, từ thời cổ đại, trong các quan điểm giáo dục của các triết gia phương Đông và phương Tây, tư tưởng giáo dục về học qua thực hành, trải nghiệm thực tiễn đã manh nha xuất hiện. Các nhà tâm lí học, giáo dục học, triết học đã nghiên cứu về vai trò của trải nghiệm đối với giáo dục ở những góc độ khác nhau.
Có thể nhắc tới “Quan điểm về phương pháp giáo dục coi trọng thực hành, vận dụng” của Khổng Tử (551-479 TCN; “A” của J.A Cômenxki; Học thuyết giáo dục của Mác - Ănghen và Lê Nin về “giáo dục kỹ thuật tổng hợp và giáo dục kết hợp với lao động sản xuất” trên cơ sở phát triển đề cương về giáo dục kỹ thuật tổng hợp của Crupxcaia; Con đường nhận thức biện chứng của Lê Nin. Trải qua thời gian, đến thế kỷ 19, các nhà Tâm lí học, Giáo dục học trên thế giới như: William James, Kurt Lewin, John Dewey, Jean Piaget, Lev Vygotsky, Carl Jung, Carl Rogers, Paulo Freire, và Mary Parker Follett,… đã nghiên cứu sâu và hệ thống hơn về học tập trải nghiệm theo các khía cạnh khác nhau. Nửa đầu thế kỷ 19, chúng ta có thể nhắc tới 3 mô hình học tập trải nghiệm cổ điển tiêu biểu là: Mô hình học tập trải nghiệm của Kurt Lewin về nghiên cứu hành động và đào tạo trong phòng thí nghiệm, mô hình học từ kinh nghiệm của John Dewey, hay Jean Piaget có mô hình học tập và phát triển nhận thức. Đây được coi như cơ sở khoa học nền tảng của việc phát triển lý thuyết học tập trải nghiệm của D.
Kolb sau này.23] Năm 1971, lý thuyết “Học tập trải nghiệm” experiential learning của D. Kolb chính thức được công bố lần đầu tiên với tư cách là một lý thuyết tương đối toàn diện về một phương thức học tập tích lũy, chuyển hóa kinh nghiệm. Từ đó đến nay, trên nhiều khu vực ở nhiều quốc gia có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới ,“Học tập trải nghiệm” đã được ứng dụng rộng rãi, đồng thời được coi như triết lí giáo dục của nhiều quốc gia và đang tiếp tục phát triển trong thời đại hiện nay.95] 6 Hiện nay, hầu hết các nước phát triển đều quan tâm đến hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nhất là các nước tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực; chú ý giáo dục nhân văn, giáo dục sáng tạo, giáo dục phẩm chất và kĩ năng sống.Canađa, Mỹ, Ôxtrâylia, Singapore, Hàn quốc các nhà giáo dục đều đặc biệt quan tâm đến việc nghiên cứu sự phát triển toàn diện của học sinh. Các trường học tạo điều kiện cho học sinh được tham gia các hoạt động xã hội phong phú và đa dạng, họ quan tâm tổ chức các trung tâm văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, giáo dục kỹ năng sống cho học HS.
Tuy nhiên, họ quan điểm các HĐTN không phải là một chương trình giáo dục chính thức trong nhà trường mà các HĐTN chỉ mang tính tự nguyện, tình nguyện vì lợi ích xã hội. Bên cạnh đó vấn đề luôn được quan tâm nghiên cứu là quá trình rèn luyện hệ thống kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục nhằm hình thành năng lực nghề nghiệp cho người giáo viên. Từ những năm 50 của thế kỷ XX, các nhà tâm lý học, giáo dục học Xô-viết đã có nhiều công trình nghiên cứu về rèn luyện kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục nói riêng và rèn luyện hệ thống kỹ năng nghiệp vụ sư phạm cho người GV nói chung. Điển hình là các công trình nghiên cứu của N.
Cudơmina về “Hình thành các năng lực sư phạm”, O.Apđulinna “Bàn về kỹ năng sư phạm”, X.Kixegôf “Hình thành các kỹ năng, kỹ xảo sư phạm trong điều kiện giáo dục đại học” [4, tr. Vương quốc Anh: “Chương trình giáo dục phổ thông cung cấp hàng loạt tình huống, bối cảnh đa dạng, phong phú cho học sinh và đòi hỏi phát triển, ứng dụng nhiều tri thức, kỹ năng trong chương trình, cho phép HS sáng tạo và tư duy; giải quyết vấn đề theo nhiều cách thức khác nhau nhằm đạt kết quả tốt hơn; cung cấp cho Hs các cơ hội sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ, dám làm” [4, tr. Hàn Quốc: Mục tiêu HĐTN của đất nước họ hướng đến con người được giáo dục, có sức khỏe, độc lập và sáng tạo. Đối với cấp TH và cấp THCS nhấn mạnh cảm xúc và ý tưởng sáng tạo, còn cấp THPT thì phát triển công dân toàn cầu có suy nghĩ sáng tạo [4, tr.
Singapore: “Hội đồng nghệ thuật quốc gia có chương trình giáo dục nghệ thuật, cung cấp, tài trợ cho nhà trường phổ thông toàn bộ chương trình của các nhóm nghệ thuật, những kinh nghiệm sáng tạo nghệ thuật” [6, tr. 7 Netherland: “Thiết lập trang mạng nhằm trợ giúp những HS có những sáng tạo làm quen với nghề nghiệp. HS gửi hồ sơ sáng tạo (dự án) của mình vào trang mạng này, thu thập thêm những hiểu biết từ đây; mỗi HS nhận được khoản tiền nhỏ để thực hiện dự án của mình” [6, tr. Khi xem xét, nghiên cứu các quan điểm, mô hình giáo cục của các nước tiên tiến, điểm hình trên thế giới, ta có thể học được những kinh nghiệm quý báu để chọn lọc, nghiên cứu để vận dụng cho phù hợp vào bối cảnh Việt Nam nhằm đổi mới giáo dục theo hướng phát triển năng lực người học, đáp ứng yêu cầu đổi mới.
Những nghiên cứu ở Việt Nam Hoạt động trải nghiệm là một khái niệm mới trong chương trình giáo dục phổ thông 2018. Để xác định được khái niệm “hoạt động trải nghiệm”, cần xuất phát từ các thuật ngữ "hoạt động”, “trải nghiệm” và mối quan hệ qua lại giữa chúng với nhau. Tuy nhiên, nó cũng không phải là phép cộng đơn giản của các thuật ngữ trên, bởi trong hoạt động đã có yếu tố trải nghiệm. những hoạt giáo dục có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành phẩm chất và năng lực cho người học, dành cho đối tượng học sinh đảm bảo các yếu tố Hoạt động-Trải nghiệm, mới được gọi là hoạt động trải nghiệm.
Theo chương trình giáo dục phổ thông mới ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo: "HĐTN là các HĐGD thực tiễn được tiến hành song song với hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông hoặc trong xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, các kỹ năng và tích lũy kinh nghiệm riêng của cá nhân. Trải nghiệm là hoạt động được coi trọng trong từng môn học; đồng thời trong kế hoạch giáo dục cũng bố trí các hoạt động trải nghiệm sáng tạo riêng, mỗi hoạt động này mang tính tổng hợp của nhiều lĩnh vực giáo dục, kiến thức, kỹ năng khác nhau” [5, tr. Đã có nhiều nghiên cứu trong nước đề cập đến HĐTN nói chung và HĐTN trong nhà trường nói riêng. Tác giả Đinh Thị Kim Thoa, nghiên cứu về mục tiêu năng lực, nội dung chương trình và cách đánh giá của hoạt động trải nghiệm.
Xác định mục tiêu, đề xuất nội dung, các tiêu chí đánh giá mục tiêu năng lực hoạt động trải nghiệm của học sinh phổ thông thông qua nghiên cứu một số các mô hình học tập trải nghiệm. Từ 8 đó đưa ra một số lí thuyết học tập trải nghiệm như: các đặc điểm của học tập trải nghiệm, chu trình học tập trải nghiệm. Qua đó đề xuất các bước thiết kế hoạt động, đặt ra những yêu cầu khi thiết kế, tổ chức hoạt động trải nghiệm trong môn học ở nhà trường phổ thông. 13] Nghiên cứu định hướng tổ chức hoạt động trải nghiệm, tác giả Võ Minh Trung đã đề xuất nguyên tắc, xác định nội dung và quy trình giáo dục môi trường dựa vào trải nghiệm trong dạy học môn Khoa học ở tiểu học dựa trên mô hình học tập dựa vào trải nghiệm của Kolb; xác định các điều kiện để thực hiện, hướng dẫn xây dựng kế hoạch và minh họa xây dựng một số kế hoạch giáo dục môi trường dựa vào trải nghiệm trong dạy học môn Khoa học [7, tr.
Theo tác giả Phạm Quang Tiệp: HĐTN là hoạt động giáo dục, trong đó HS dựa trên sự tổng hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực giáo dục và nhóm kĩ năng khác nhau để trải nghiệm thực tiễn và tham gia các hoạt động cộng đồng dưới sự hướng dẫn, tổ chức của nhà giáo dục, qua đó hình thành những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và một số năng lực thành phần đặc thù của hoạt động này. Khi nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm, tác giả Bùi Ngọc Diệp đã đề cập tới khái niệm HĐTN. Tác giả lại cho rằng hoạt động trải nghiệm là hoạt động mang tính xã hội, thực tiễn đến với môi trường giáo dục trong nhà trường, ở đó học sinh được tự chủ trải nghiệm trong tập thể, qua đó hình thành và thực hiện được phẩm chất, năng lực, nhận ra năng khiếu, sở thích, đam mê, bộc lộ và điều chỉnh cá tính, giá trị; nhận ra chính mình cũng như khuynh hướng phát triển của bản thân: bổ trợ cho và cùng với các hoạt động dạy học trong chương trình giáo dục thực hiện tốt nhất mục tiêu giáo dục. Hoạt động này nhấn mạnh sự trải nghiệm, thúc đẩy năng lực sáng tạo của người học và được tổ chức thực hiện một cách linh hoạt.
Một số nghiên cứu về quản lí việc tổ chức hoạt động giáo dục trải nghiệm cho học sinh trong nhà trường, vấn đề tổ chức quản lí HĐTN cho HS các cấp từ mầm non đến đại học mới được quan tâm trong thời gian gần đây. Một số nghiên cứu đã tìm hiểu được thực trạng quản lí hoạt động trải nghiệm của HS, từ đó đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động trải nghiệm [7, tr. 9 Trước đó, một số nghiên cứu vấn đề về công tác quản lí HĐTN cũng đã được xác định ở như: Quản lí hoạt động giáo dục ngoại khóa tại trường phổ thông cần phối kết hợp hoạt động giáo dục ngoại khóa với giáo dục chính khóa hướng đến nâng cao chất lượng giáo dục ngoại khóa, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện HS, đáp ứng xu thế phát triển, hội nhập quốc tế [7, tr. Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông, vấn đề nhận thức về HĐTN đã được nhiều người quan tâm.
Tác giả Đinh Thị Kim Thoa có bài “Xây dựng chương trình HĐTN trong chương trình giáo dục phổ thông” tại hội thảo khoa học quốc tế và giáo dục theo năng lực tổ chức tại Học viện QLGD vào tháng 4 năm 2015.