Phần mở đầu: bao gồm các mục tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vị nghiên cứu, giả thuyết khoa học, nhiệm vụ nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu. - Phần nội dung gồm ba chƣơng: + Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo định hƣớng phát triển năng lực cho học sinh ở trƣờng tiểu học. + Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo định hƣớng phát triển năng lực cho học sinh ở các trƣờng tiểu học thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. + Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo định hƣớng phát triển năng lực cho học sinh ở các trƣờng tiểu học thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Kết luận và khuyến nghị - Tài liệu tham khảo - Phụ lục 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Các nghiên cứu ngoài nƣớc Trong quá trình lịch sử phát triển của giáo dục, theo quan điểm dạy học theo định hƣớng PTNL, ngƣời học sẽ tự khám phá kiến thức thông qua chính hoạt động của bản thân. Điều này đã đƣợc các nhà giáo dục đƣa ra từ khá sớm, chẳng hạn Khổng Tử (551-479 TCN) đã giúp học trò phát triển bằng phƣơng pháp chính của dạy học là gợi mở.
Ông có nhiều phƣơng pháp giáo dục khá phong phú, đa dạng nhƣ: phƣơng pháp nêu gƣơng, phƣơng pháp học đi đôi với hành, phƣơng pháp kết hợp giữa thầy và trò.Comenxki (1592-1670) thông qua thực tiễn ông đƣa ra các biện pháp dạy học buộc HS phải tìm tòi, suy nghĩ để nắm đƣợc bản chất của sự vật hiện tƣợng. Ông đã đƣa ra những yêu cầu cải tổ nền giáo dục theo hƣớng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của ngƣời học. Đến khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX nhiều nhà giáo dục bắt đầu đi sâu hƣớng đến sự tích cực hóa hoạt động nhận thức của ngƣời học nhƣ John Dewey (1859-1952).Macarenco (1888-1938),… Trong đó tiêu biểu, Maria Montessori (1870-1952), bà đã phát minh ra phƣơng pháp giáo dục mang tên mình Montessori. Phƣơng pháp Montessori chấp nhận sự duy nhất của mỗi trẻ và cho phép trẻ phát triển tuỳ theo những khả năng và thời gian riêng của mình.
Phƣơng pháp giáo dục của bà đến nay vẫn đƣợc áp dụng rộng rãi trên thế giới và trở thành một phƣơng pháp có ảnh hƣởng lớn đến nền giáo dục nhân loại hiện đại. Nhƣng đến những năm cuối thế kỷ XX, các nghiên cứu về giáo dục theo định hƣớng PTNL mới đƣợc đề cập và nghiên cứu một cách có hệ thống. Vấn đề năng lực và PTNL trong giáo dục đã đƣợc nhiều tác giả nƣớc ngoài quan tâm nghiên cứu và đã phát triển một cách mạnh mẽ trong những năm từ 1970 đến những năm1990, tiêu biểu nhƣ: Tiếp cận giáo dục, đào tạo và phát triển dựa trên mô hình năng lực - Paprock (1996) [30]. Các nghiên cứu trong nƣớc Trong giai đoạn phát triển kinh tế theo xu hƣớng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, việc đổi mới PPDH theo định hƣớng phát triển phẩm chất và năng lực của HS đã đƣợc Đảng, Nhà nƣớc hết sức chú trọng, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của BCH Trung ƣơng Đảng khóa XI về đồi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Các vấn đề quản lý dạy học theo định hƣớng phát triển phẩm chất và năng lực của HS cũng đƣợc quan tâm một cách cụ thể: “Thiết kế chương trình dạy học theo định hướng phát triển NLHS” của tác giả Nguyễn Công Khanh[13], Lƣơng Việt Thái [26], Đỗ Ngọc Thống [27],. “Tổ chức hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh” của tác giả Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Sỹ Thƣ [4]. Trong các năm gần đây các đề tài luận văn thạc sĩ về quản lý HĐDH theo định hƣớng phát triển phẩm chất và năng lực của HS cũng đƣợc quan tâm chi tiết hơn ở từng cấp học, từng môn học kể đến: “Quản lí HĐDH theo định hướng phát triển năng lực HS ở trường Trung học cơ sở Hòa Bình, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng” của tác giả Trần Thị Nhài, năm 2016; “Quản lí HĐDH theo định hướng phát triển năng lực HS ở các trường THPT huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam” của tác giả Bùi Đức Thiện, năm 2016. Các tác giả trong và ngoài nƣớc cùng với một số nghiên cứu đƣợc nói ở trên, đã đƣa ra những nhận định, làm rõ đƣợc bản chất, nội dung dạy học (NDDH), phƣơng pháp dạy học (PPDH), hình thức tổ chức (HTTC), kiểm tra - đánh giá HĐDH theo định hƣớng PTNL HS với mong muốn nâng cao chất lƣợng giáo dục.
Tuy nhiên, ở thành phố Quy Nhơn cho đến nay vẫn chƣa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến công tác quản lý HĐDH môn Toán theo định hƣớng phát triển năng lực cho học sinh ở các trƣờng tiểu học một cách có hệ thống và phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh. Chính vì vậy trên cơ sở nghiên cứu về thực trạng và kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trƣớc, từ đó xác lập các biện pháp quản lý HĐDH môn Toán theo định hƣớng phát triển năng lực cho học sinh ở các trƣờng tiểu học thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định là cần thiết, góp phần bổ sung cơ sở lí luận hoạt động dạy học môn 7 Toán bậc Tiểu học, đáp ứng thực hiện đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm Quản lý giáo dục 1.
Khái niệm Quản lý Theo Từ điển Tiếng Việt, quản lý là: “Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định hoặc là: “Tổ chức và hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [21]. Theo Harold Koontz, Cyril O‟Donnell, Heinz Weihrich đƣa ra khái niệm: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nhằm bảo đảm sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục đích của nhóm [17; tr. Ở Việt Nam, khái niệm quản lý cũng đã đƣợc các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài nƣớc (chủ yếu là nội lực) một cách tối ƣu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [14].
Theo tác giả Võ Nguyên Du và Vũ Văn Dân: “Quản lý là tác động của chủ thể quản lý vào đối tƣợng quản lý trong một tổ chức (hay một hệ thống xã hội) với những phƣơng pháp vừa có tính khoa học lại vừa có tính nghệ thuật nhằm đạt mục tiêu chung cũng nhƣ mục tiêu riêng của các đối tƣợng trong tổ chức [7; tr. Những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về góc độ tiếp cận và cách diễn đạt, nhƣng đều chung nhau ở những nội dung cơ bản của khái niệm quản lý. Từ đó, có thể khái quát nhƣ sau: Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý một cách liên tục có tổ chức, có định hướng trong một tổ chức nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua các công cụ và phương pháp quản lý. Khái niệm Quản lý giáo dục Cũng nhƣ khái niệm về QL thì QLGD có nhiều cách diễn đạt khác nhau đã đƣợc rất nhiều nhà khoa học trình bày: Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đƣờng lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện đƣợc các tính chất của nhà trƣờng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy 8 học – giáo dục thế hệ trẻ, đƣa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [22; tr.
Theo tác giả Lê Quang Sơn: “QLGD là quản lý hệ thống giáo dục bằng sự tác động có mục đích, có kế hoạch, có ý thức và tuân thủ các quy luật khách quan của những chủ thể QLGD lên toàn bộ các mắc xích của hệ thống giáo dục nhằm đƣa hoạt động giáo dục của cả hệ thống đạt tới mục tiêu giáo dục” [24]. Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “ QLGD là quá trình đạt tới mục tiêu trên cơ sở thực hiện có ý thức và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [19; tr. Có thể thấy rằng, quan điểm về QLGD có nhiều cách diễn đạt khác nhau, tuy nhiên các yếu tố cơ bản đều đƣợc đề cập đến trong mỗi định nghĩa nhƣ: chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mục tiêu, cách thức và công cụ quản lý. Từ đó, có thể hiểu QLGD một cách khái quát nhƣ sau: QLGD là những tác động có chủ đích, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể QLGD lên khách thể QLGD nhằm đảm bảo hoạt động của tổ chức, hệ thống giáo dục đạt được hiệu quả các mục tiêu giáo dục đã đề ra.
Khái niệm Quản lý nhà trường Quản lý nhà trƣờng là một bộ phận của QLGD. Theo Phạm Viết Vƣợng: “Quản lý nhà trƣờng là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS và các lực lƣợng giáo dục khác, cũng nhƣ huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo trong nhà trƣờng” [29]. Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trƣờng là hệ thống những hoạt động có mục đích, có kế hoạch, có quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho nhà trƣờng vận hành theo đƣờng lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện đƣợc các tính chất của nhà trƣờng xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [23]. Quản lý nhà trƣờng là một trong những nội dung quan trọng trong hệ thống quản lý giáo dục nói chung.
Quản lý nhà trƣờng là hoạt động đƣợc thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng. Quản lý nhà trƣờng khác với các loại hình quản lý xã hội khác, đƣợc quy định bởi tính chất hoạt động sƣ phạm của nhà trƣờng.