Chương 1: Cơ sở lý luận và thực trạng của việc tổ chức hoạt động dạy học đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và đánh giá học sinh ở môn Toán 1 theo hướng phát triển năng lực cho học sinh. Chương 2: Đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và đánh giá học sinh ở môn Toán 1 theo hướng phát triển năng lực cho học sinh. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Khái niệm năng lực Có rất nhiều định nghĩa về năng lực và khái niệm này đang thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu. Trong Từ điển Tiếng Việt (tr 660 - 661, Hoàng Phê, NXB Đà Nẵng, 2005)[21] khái niệm năng lực được xác định là: Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao. Năm 2002, nhóm nghiên cứu của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Thế giới) đưa ra khái niệm về năng lực như sau: “Năng lực là khả năng các nhân đáp ứng các yêu cầu phức tạp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể”. Theo cách hiểu của Đặng Thành Hưng: “NL là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”.
Tài liệu hội thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong chương trình giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra “Năng lực là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí để thực hiện một loại công việc trong một bối cảnh nhất định”. Năng lực cũng có thể được hiểu theo cách thông thường là sự kết hợp của tư duy, kĩ năng và thái độ có sẵn hoặc ở dạng tiềm năng có thể học hỏi 11 được của một các nhận hoặc một tổ chức để thực hiện thành công nhiệm vụ (DeSeCo, 2002)[25]. Mức độ và chất lượng hoàn thành công việc sẽ phản ánh mức độ năng lực của người đó. Chính vì thế, thuật ngữ “năng lực” hay “khả năng”, “kĩ năng” có thể xem tương đương với các thuật ngữ “competency”, “ability”, “capability”,… trong tiếng Anh.
Dưới góc độ giáo dục, chúng ta có thể xem xét năng lực là kết quả của quá trình giáo dục, rèn luyện cá nhân, thể hiện ở những kiến thức, kĩ năng và thái độ phù hợp để cá nhân có thể tham gia hiệu quả vào một lĩnh vực hoạt động nhất định. Ở góc độ này, người có năng lực ở lĩnh vực nào thì nhất định phải có tri thức, kĩ năng ở trong lĩnh vực ấy, có thái độ tích cực để vận dụng tri thức, kĩ năng hiệu quả vào các hoạt động. Tuy nhiên, có tri thức, kĩ năng chưa thể khẳng định cá nhân có năng lực hay không, bởi tri thức, kĩ năng ấy chưa chắc đã được hiện thực hóa trong hoạt động. Vậy năng lực dưới góc độ giáo dục học được thể hiện ở kết quả hoạt động của cá nhân, khả năng vận dụng tri thức, kĩ năng để tham gia có hiệu quả trong một lĩnh vực hoạt động nhất định.
Có thể thấy, năng lực thường được định nghĩa theo hai kiểu: kiểu lấy dấu hiệu tố chất tâm lý và kiểu lấy dấu hiệu về các yếu tố tạo thành khả năng hành động. Các cách diễn đạt khác nhau nhưng đều toát lên một số đặc điểm chung, cơ bản của năng lực là: - Đề cập tới xu thế đạt được một kết quả nào đó của một công việc cụ thể do một con người cụ thể thực hiện mà không tồn tại năng lực chung. - Có sự tác động của một các nhân cụ thể tới một đối tượng cụ thể (kiến thức, quan hệ xã hội…) để có được một sản phẩm nhất định, do đó có thể phân biệt người này với người khác. - Năng lực là một yếu tố cấu thành trong một hoạt động cụ thể.
Năng lực chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể. Vì vậy, năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động, nó là điều kiện 12 của hoạt động, nhưng cũng phát triển trong chính hoạt động đó. - Bản chất của năng lực là khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt có tổ chức, hợp lí các kiến thức, kĩ năng với thái độ, giá trị, động cơ, nhằm đáp ứng những nhu cầu phức hợp của một hoạt động, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt đẹp trong một bối cảnh nhất định. Các năng lực chung Mỗi cá nhân để thành công trong học tập, thành đạt trong cuộc sống cần sở hữu nhiều loại năng lực khác nhau.
Năng lực thường tồn tại dưới hai hình thức: năng lực chung (key competencies) và những năng lực đặc thù (domain - specific competencies). Năng lực chung là những năng lực cần thiết để cá nhân có thể tham gia hiệu quả trong nhiều loại hoạt động và bối cảnh khác nhau của đời sống xã hội. Theo OECD (2008)[22], khung năng lực của học sinh phổ thông được đề xuất là: - Sử dụng công cụ tương tác: sử dụng ngôn ngữ tương tác, sử dụng kiến thức và thông tin tương tác, sử dụng công cụ tương tác. - Tương tác trong nhóm phức hợp: hợp tác, làm việc nhóm; quản lí và giải quyết mâu thuẫn.
- Hành động độc lập: hành động với tư duy tổng thể; hình thành và thực hiện các kế hoạch trong cuộc sống và dự án cá nhân; bảo vệ và khẳng định quyền, lợi ích, nhu cầu. - Theo chương trình Toán của Australia năm 2013, năng lực chung bao gồm các kiến thức, kĩ năng, hành vi và thái độ, cùng với nội dung chương trình trong từng lĩnh vực học tập và các chương trình giảng dạy ưu tiên, sẽ giúp học sinh sống và làm việc thành công trong thế kỉ XXI. Chương trình chỉ rõ bảy năng lực chung của học sinh, bao gồm: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL sử dụng thông tin và truyền thông (ICT), tư duy phê phán và sáng tạo, NL giao tiếp, sự hiểu biết đạo đức, sự hiểu biết liên văn hóa. Theo dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (tháng 8/2015)[2]: 13 NL chung là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc.
Các hoạt động giáo dục (bao gồm các môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo), với khả năng khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các năng lực chung của học sinh. Chương trình giáo dục phổ thông nhằm hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực chủ yếu: NL tự học, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo, NL thẩm mỹ, NL thể chất, NL giao tiếp, NL hợp tác, NL tính toán, NL công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) Ngoài ra, NL của học sinh có thể hiểu là khả năng làm chủ hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ phù hợp với lứa tuổi và vận hành chúng một cách hợp lí vào thực hiện các nhiệm vụ học tập, giải quyết các vấn đề của chính các em trong cuộc sống. Sự kết hợp hài hòa ba yếu tố kiến thức, kĩ năng, thái độ tạo nên khả năng hành động (thực tiễn) hiệu quả và sẵn sàng hành động. Năng lực đặc thù của môn Toán Theo dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (tháng 8/2015), năng lực đặc thù của môn học là năng lực mà môn học đó có ưu thế hình thành và phát triển (do đặc điểm của môn học).
Một năng lực có thể là năng lực đặc thù của nhiều môn học khác nhau. Ví dụ: Môn Toán có ưu thế trong phát triển NL tính toán, NL giải quyết vấn đề và NL tư duy sáng tạo… Trong luận văn này, vấn đề tiếp cận năng lực tập trung ở khía cạnh thứ nhất. NL toán học ở HS được hiểu là những đặc điểm tâm lí cá nhân (trước hết là những đặc điểm hoạt động trí tuệ) đáp ứng những yêu cầu của hoạt động học tập toán học, và trong những điều kiện vững chắc như nhau thì là nguyên nhân của sự thành công trong việc nắm vững một cách sáng tạo toán học với tư cách là môn học, đặc biệt nắm vững một cách sáng tạo toán học với những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực toán học (Giáo dục học môn Toán - Phạm Văn Hoàn, Nguyễn Gia Cốc, Nguyễn Thúc Trình)[15]. Theo tài liệu Hướng dẫn đánh giá năng lực của học sinh cuối cấp tiểu 14 học của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, năng lực làm toán được hiểu là tổ hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ, động cơ, vận dụng toán học trong các tình huống/bối cảnh thực tế.
Tức là thể hiện ở việc chủ thể (HS) chỉ ra, tạo sự liên kết giữa các tri thức toán học với nhau và việc vận dụng cũng như ý thức vận dụng các tri thức đó để giải quyết các vấn đề, tình huống trong cuộc sống hàng ngày. Năng lực làm toán sẽ minh họa qua các môn học, lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và trong đời sống. Theo tác giả Trần Kiều (Hội thảo đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông, 2012)[19] những năng lực cần hình thành và phát triển cho người học qua dạy học môn Toán ở trường phổ thông Việt Nam là: NL tư duy, NL giải quyết vấn đề, NL mô hình hóa toán học, NL giao tiếp, NL sử dụng các công cụ, phương tiện học toán, NL học tập độc lập và hợp tác. Các thành phần trên có liên quan chặt chẽ với nhau tạo thành một cấu trúc hoàn chỉnh và NL toán học.
Năng lực tư duy Khái niệm tư duy Trong thế giới hiện thực có rất nhiều cái con người chưa biết, chưa nhận thức được. Nhiệm vụ của cuộc sống luôn đòi hỏi con người phải hiểu thấu những cái chưa biết đó, phải vạch ra được cái bản chất và những quy luật tác động của chúng, Quá trình nhận thức đó gọi là tư duy. Theo tâm lí học: Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - bộ não con người. Tư duy phản ánh thế giới vật chất dưới dạng các hình ảnh lí tưởng: “Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong bản chát, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết”.