mở đầu cho thời đại nghiên cứu sự phát triển tâm lý của trẻ em dé tự tạo ra trí khôn bằng thao tác. Còn Howard Gardner (1943 -) là một nhà tâm 17 lý học người Mỹ đã phá bỏ quan niệm truyền thống cho rằng trí khôn chủ yếu được tạo thành trong phạm vi nhà trường, dé mở mang sang trí khôn phi học đường và trí khôn sáng tạo, xây dựng lý thuyết trí khôn nhiều thành phần của ông. Tat cả những tư tưởng trên là cơ sở lý luận cho phép hiểu rõ nội dung của “Dạy học kiến tạo”. Không chỉ trình bày cơ sở lý luận của “Dạy học truyền thụ” và “Dạy học kiến tạo” từ những tiếp cận riêng rẽ, các học giả nước ngoài còn lưu ý đến mối quan hệ mật thiết giữa các tiếp cận đó.
Trong khi trở thành các khoa học độc lập, Giáo dục học, Tâm lý học giáo dục vẫn không hề “tách thoát” khỏi Triết học, bởi cùng có mối quan tâm về bản chất của nhận thức. Những quan điểm, tư tưởng ấy vừa là sự cụ thé hóa hơn, chứng minh cho các quan điểm triết học nhận thức, vừa là đặt van dé, gợi mở khiến triết học phải tiếp tục suy tư, đào sâu hơn trong luận giải về nhận thức. Chang hạn, đó là các câu hỏi: tri thức hoan toàn có tính khách quan hay vẫn có tính chủ quan; chủ thé nhận thức có thê tích cực, năng động đến đâu, mức độ nào; điều gì quy định nó. Đây là nội dung được các học giả phương Tây nêu rõ khi nghiên cứu về các lý thuyết học tập như thuyết Kiến tạo.
Chang hạn, cuốn sách “Constructivism in Science Education - A Philosophical” (Chủ thuyết Kiến tạo trong Khoa học giáo duc - Một khảo sát triết học) [73] do Michael R. Matthews (1998) chủ biên là tập hợp 11 bài viết học thuật bàn về Thuyết kiến tạo và các vấn đề liên quan, đặc biệt là mối quan hệ giữa thuyết Kiến tạo với triết học. Theo ông, tự trong bản chất, thuyết Kiến tạo có mối liên quan mật thiết với các vấn đề thuộc triết học như bản thể luận, nhận thức luận, song khía cạnh nay lại thường được coi là hiển nhiên, đến mức thừa nhận nhưng không cần lập luận. Đây cũng là một trong những lý do để ông trình bày sâu hơn mối quan hệ giữa triết học và chủ thuyết Kiến tạo trong khoa học giáo dục với bài “Jntroductory Comments on Philosophy and Constructivism in Science Education” (Giới thiệu về Triết học và Chủ thuyết 18 kiến tạo trong Khoa học giáo dục) [72] (1997).
Theo ông, khởi đầu chủ thuyết Kiến tạo là một lý thuyết về học tập, sau đó nó được mở rộng sang các vấn đề nhận thức luận, tâm lý học nhận thức, đạo đức học. Tuy nhiên, ngay cả khi hình thành với tư cách là một lý thuyết học tập, thuyết Kiến tạo vẫn có mối liên hệ với triết học, vì cùng quan tâm đến nội dung nhận thức luận. Matthews cho biết ngay cả Jean Piaget - một trong những người đặt nền tảng cho chủ thuyết Kiến tạo đã nhận định răng: bất kỳ một lý thuyết học tập chân chính nào cũng liên quan đến nhận thức luận, nhưng điều này lại không được quan tâm đúng mức [72]. Cũng đặt thuyết Kiến tạo trong mối quan hệ với triết học nhận thức, tác giả Ernst von Glasersfeld (1989) trong bai “Cognition, Construction of Knowledge and Teaching” (Nhận thức, kiến tao tri thức và day học) [69] cho rằng, quan điểm truyền thống phương Tây về nhận thức, rằng chân lý là sự phù hợp giữa tri thức và hiện thực khách quan, đang bị thách thức bởi những quan điểm theo xu hướng cho rằng, tri thức còn mang tính chủ quan do gắn với sự nhận thức năng động, chủ động của chủ thể nhận thức.
Thuyết này (ra đời từ Vico, Mark Baldwin, Piaget, Vygotsky.) cho rang tri thức không chỉ là sự phù hop giữa nhận thức va thé giới khách quan, mà nó còn phụ thuộc vào những cấu trúc khái niệm có sẵn trong kinh nghiệm của con người. Mặc dù quan điểm này không phải là mới về mặt triết học, thậm chí đã được I. Kant luận chứng một cách sâu sắc thông qua các phạm trù “tiên nghiệm”, tuy thế, điểm mới của thuyết Kiến tạo là cố găng luận giải trên cơ sở khoa học tâm lý giáo dục, đặc biệt gan liền với một lĩnh vực mang tính thực tiễn như giáo dục, cô vũ sự chủ động, tích cực của người học. Kiến thức không phải là thứ được chuyên giao một cách thụ động, mà phải thông qua quá trình tương tác.
Việc tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận các mô hình day học cho thay có hai điểm nổi bat. Thi? nhát, các công trình đã làm rõ 19 khác biệt cơ bản giữa “Dạy học truyền thụ” và “Dạy học kiến tạo”. Thứ hai, các công trình đã luận chứng cho sự tồn tại khách quan của từng mô hình dạy học từ các góc độ khác nhau, trong đó nôi bật là cách tiếp cận của Giáo dục học, Tâm lý học giáo dục. Từ đó, chúng tôi nhận ra hai vấn đề cần tiếp tục làm rõ.
Thi nhát, nhân mạnh vào sự đối lập giữa hai phương thức dạy học, phải chăng các tác giả muốn phê phán mặt hạn chế của lối day học cô truyền - chưa chú trọng phát triển năng lực người học, do đó đã tạm thời trừu tượng hóa mặt thống nhất giữa hai lối dạy. “Dạy học kiến tạo” tuy là một mô hình dạy học hiện đại, nhưng vẫn có mặt hạn chế nhất định. Vậy điểm thống nhất giữa hai mô hình này là gì, từ đó sự chuyển đổi giữa hai mô hình sẽ đi theo khuynh hướng nào: phủ định sạch trơn hay phủ định biện chứng, dựa trên căn cứ nào dé khẳng định như vay. Thi hai, trong khi trình bày lý luận về từng mô hình dạy học, các công trình chủ yếu tập trung ở góc độ Giáo dục học, Tâm lý học giáo dục, Lý luận dạy học và có lưu ý về mối quan hệ giữa tiếp cận này với nhận thức luận triết học, song chưa thật làm rõ.
Theo chúng tôi, giáo dục vừa là một dạng hoạt động thực tiễn, vừa mang tính chất của một hình thái ý thức xã hội phan ánh tồn tại xã hội. Sự tồn tại của mỗi mô hình dạy học cũng như sự chuyên đổi giữa chúng không chỉ bị quy định bởi những quy luật tâm lý hay quy luật sư phạm thuần túy, mà sâu rộng hơn, bị quy định bởi điều kiện sản xuất và đời sống xã hội, bởi các vấn đề bản chất người và sự phát triển con người toàn diện, bởi các mâu thuẫn bên trong của giáo dục. Do đó, để có cái nhìn toàn diện hơn, cần đặt vẫn đề sự chuyên đổi mô hình dạy học từ truyền thụ sang kiến tạo trong mối quan hệ chỉnh thé với xã hội và con người, từ đó rút ra các nguyên tắc khách quan, khoa học cho sự chuyển đôi.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến các yếu tô tác động đến sự chuyến đổi mô hình dạy học từ truyền thụ sang kiến tạo Lý giải tính tất yêu của chuyên đổi mô hình day học từ truyền thụ sang kiến tạo đồng nghĩa với việc trả lời câu hỏi: tại sao cần chuyên đổi? Trả lời câu hỏi trên, các công trình nghiên cứu đều thống nhất cho rằng: cách mạng khoa học công nghệ, nền kinh tế tri thức và bối cảnh toàn cầu hóa là những yếu tô thuộc ton tại xã hội, trực tiếp tác động, gây ra sự chuyên đổi dạy học theo hướng kiến tạo. Sau đây là những công trình đáng chú ý: Alvin Toffler (1992) trong Cứ sóc tương lai [54], chương 18 - “Giáo dục trong thời tương lai” đề cập đến tác động của cách mạng khoa học công nghệ đến giáo dục.
Ông cho rằng trước sự hình thành nền siêu công nghiệp (nền kinh tế tri thức), lĩnh vực “nguy kịch nhất” chính là giáo dục hiện thời. Bởi nó đang vận hành một cách nguy hiểm, “chương trình giảng dạy hiện nay là sự bảo lưu ngu xuân của quá khứ” [54, tr. Phác thảo những nét cơ bản nhất của xã hội tương lai, ông cho rằng “Trong hệ thống công nghiệp của ngày mai - nhanh, linh hoạt và tự điều chỉnh - máy móc sẽ xử lý dong vật liệu vật lý, con người sẽ xử lý dòng tin tức và sự vật. Máy móc sẽ thực hiện những công việc hàng ngày, con người sẽ thực hiện những công việc trí thức và sáng tạo.
Công nghiệp ngày mai không yêu cầu hàng triệu người ngồi đọc giấy tờ, không yêu cầu con người sẵn sàng làm các việc lặp đi lặp lại vô tận, và tuân lệnh mù quáng chỉ vì miếng cơm, manh áo, mà nó yêu cầu con người có thê phán đoán quyết định, có thể kết hợp các cách của họ qua những môi trường mới lạ, nhanh chóng phát hiện những mối quan hệ mới trong thực tế đang đổi thay. Nó yêu cầu con người phải có tương lai trong xương thịt của họ” [54, tr 166 — 167]. Nói đến cách mạng khoa học công nghệ thì công nghệ thông tin là một trong những ngành quan trọng hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong việc thúc đây các ngành khác, đồng thời tác động trực tiếp đến sự chuyển đổi giáo dục, 21 dạy học. Như các tác giả cuốn Giáo duc Việt Nam hướng tới tương lai - van dé và giải pháp [1] (2004) lý giải, thông qua mạng máy tinh, bat cứ cá nhân nào cũng có thé tham dự các chương trình học tập trên mạng, không phân biệt vị trí địa lý, tuôi tác, hạn chế thể chất hoặc thời gian biểu cá nhân.
Mọi người đều có thé tiếp cận những kho tàng tài liệu giáo duc, dé dang tìm lại các bài học đã qua, cập nhật các kỹ năng và lựa chọn cho mình phương pháp học tập hiệu quả, phù hợp. Các chương trình giáo dục có thé sửa đổi cho phù hợp với từng cá nhân. Cùng với cách mạng khoa học công nghệ, toàn cầu hóa cũng là một yếu tố khác tác động trực tiếp đến xu hướng chuyền đổi dạy học từ truyền thụ sang kiến tạo. Khi xem xét sự tác động của toàn cầu hóa tới giáo dục và cải cách giáo dục, Thomas L.
Friedman (2006) trong Thé giới phẳng - Tóm lược Lich sử thé giới thé kỷ 21 [13] cho rằng, thé giới “phẳng” ở đây là một không gian mà tat cả các cá thể sống trong nó cùng chơi một sân chung, có cơ hội bình đăng như nhau, trước hết về kinh tế. Sự thay đôi trật tự đó làm nồi lên van đề cạnh tranh lao động mang tính toàn cầu, buộc không chỉ quốc gia mà mỗi cá nhân phải thay đối theo hướng tăng cường tri thức, trau đồi kỹ năng tư duy, làm việc hợp tac.