Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGHỆ THUẬT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về hoạt động dạy học ở các trường tiểu học a. Các nghiên cứu về hoạt động dạy học HĐ dạy học là HĐ cốt lõi trong nhà trường, là con đường quan trọng nhất để đạt được mục đích nâng cao chất lượng GD.
Trên thế giới cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này: Jan AmosKomenski (1592 - 1669) là một nhà GD vĩ đại không những của nhân dân Cộng hoà Séc mà còn cả thế giới. Trong tác phẩm “Phép giảng giải vĩ đại” - Một tác phẩm nồi tiếng của J. Komenski xuất bản năm 1632, ông khẳng định: “GD đúng đắn nhất là phải phù hợp với tự nhiên. Cái tự nhiên ấy không phải là trừu tượng, khái quát mà chính là đặc điểm, khả năng phát triền của con người ở từng thời kì lứa tuổi, trong mỗi con người cụ thể, trong đó GD phải bao gồm cái chung, cái riêng, cái tập thể, cái cá biệt.
Ông nhấn mạnh đặc biệt tới tầm quan trọng của phương pháp dạy học tích cực. Người GV lên lớp không phải cứ nói thao thao bất tuyệt, truyền thụ càng nhiều nguồn tri thức cho HS là càng tốt mà quan trọng là người học có tích cực, chủ động, sáng tạo và hứng thú với bài học không”. Komenski đã đưa ra bí quyết về phương pháp giảng dạt: “Bí quyết của GD là rèn luyện cho các em một tâm hồn dễ dàng, tích cực, tự do, ngăn cản được các điều mà các em muốn làm, ngược lại đẩy các em làm những điều mà chúng không muốn”. Ông nêu rõ: “Chủ yếu dạy các em qua việc làm chứ không phải qua lời giảng” [32].
7 John Dewey (1858-1925) nhà sư phạm người Mỹ nổi tiếng thế kỉ XX đã đưa ra những định hướng mang tính cách tân GD: “HS là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện GD. người GV không quan trọng là nói nhiều mà quan trọng là tồ chức HĐ của HS” [33]. Kharlamop, nhà GD Xô Viết, trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của HS như thế nào” đã viết trong phẩn lời nói đầu: “Một trong những vấn đề cần bàn của nhà trường Xô Viết hiện đang lo lắng và giải quyết là việc phát huy tính tích cực trong HĐ nhận thức của HS trong quá trình DH” [42]. Trong cuốn “DH nêu vấn đề” của tác giả I.Ia Lecne nhà GD Xô Viết đã nói: “Mục đích của tập sách mỏng này là làm sáng tỏ bản chất của PPDH gọi là dạy học nêu vấn đề, vạch rõ cơ sở của phương pháp đó, tác dụng của nó, phạm vi áp dụng nó” [31].Ôkôn, nhà GD Ba Lan nổi tiếng đã đúc kết ra những KQ tích cực của công trình thực nghiệm hàng chục năm về dạy học phát huy tính tích cực.
Ông đã nêu lên tính quy luật chung của dạy học nêu vấn đề, cách áp dụng phương pháp vào một số ngành khoa học và điều đó được thể hiện cụ thể ở cuốn sách “Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề”. Ở Việt Nam, Trong thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam trước hết phải nói đến quan điểm phát triển GD của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890- 1969). Bằng việc kế thừa những tinh hoa của các tư tưởng GD tiên tiến và việc vận dụng sáng tạo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã để lại cho chúng ta nền tảng lý luận về vai trò của GD, định hướng phát triển GD, mục đích DH, các nguyên lý DH, các phương thức DH, vai trò của QL và CBQL GD, phương pháp lãnh đạo và QL. Thực tiễn đã khẳng định rằng: Hệ thống các tu tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về GD có giá trị cao trong quá trình phát triển lý luận DH, lý luận GD của nền GD cách mạng Việt Nam.
Gần đây, có nhiều công trình khoa học QL của các nhà nghiên cứu, giảng viên đại học. viết dưới dạng giáo trình, sách tham khảo, phổ biến kinh nghiệm đã dược công bố, đó là các sách, giáo trình của: Phạm Thành Nghị, Đặng Bá 8 Lãm, Đặng Hữu Đạo, Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Chân, Nguyễn Bá Dương, Nguyễn Gia Quý, Bùi Trọng Tuân, Nguyễn Đình Am. Các công trình nghiên cứu trên đã giải quyết được những vấn đề lý luận cơ bản về khoa học quản lý như: Khái niệm QL; bản chất của HĐ QL; các thành phần cấu trúc, các giai đoạn của HĐ quản lý…đồng thời chỉ ra các phương pháp và nghệ thuật QL. Các nghiên cứu về dạy học môn Nghệ thuật: Năm 2009, Bộ GD và Đào tạo cho xuất bản: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, KN môn Âm nhạc, Nxb GD Việt Nam [6] Năm 2010, Bộ GD và Đào tạo cho xuất bản: Tập tài liệu tập huấn GV DH, KT-ĐG theo chuẩn kiến thức, KN trong chương trình GDPT môn Âm nhạc,Nxb GD Việt Nam.Tác giả Hoàng Long, Hoàng Lân với cuốn, phương pháp dạy học Âm nhạc - Giáo trình dành cho các trường CĐSP đào tạo GV trung học cơ sở, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, 2004.
Nghiên cứu về quản lí hoạt động dạy học môn Nghệ thuật ở các trường tiểu học QL HĐ dạy học có vai trò rất quan trọng, nó chính là yếu tố quyết định đến chất lượng của nhà trường. Chính vì vậy mà có rất nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm nghiên cứu, bàn luận về HĐ QL HĐDH. Tác giả Jang Young Song (2014) trong cuốn "Hướng dẫn quản lý hoạt động. âm nhạc, thể dục, tạo hình cho trẻ mầm non" đã nghiên cứu lý thuyết cơ bản và các bài hát, động tác vận động để giúp giáo viên hiểu hơn về hoạt động âm nhạc dành cho trẻ.
Hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ mầm non trong cuốn sách này chủ yếu là các trò chơi. Vì bản chất của trò chơi là sự vui vẻ, chơi chính là phải vui vẻ. Hoạt động trò chơi nên diễn ra thường xuyên trong vườn trẻ. Trong hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non, tác giả chỉ đề cập một phần nhỏ về lí thuyết giáo dục mĩ thuật cho trẻ, bên cạnh đó, tác gia cung cấp một số hoạt động thực hành mĩ thuật cho trẻ ở trường mầm non.
Điểm đặc biệt ở tài liệu này là phần lớn các bài tạo hình đều được thực hiện dựa trên việc sử dụng các vật liệu dễ tìm trong sinh hoạt hằng ngày [26] 9 Trần Thị Út (2019), “QL dạy học môn Âm nhạc tại các trường trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ theo hướng phát triển năng lực thẩm mỹ, đã xây dựng khung lí luận về DH, phát triển năng lực thẩm mỹ và QL dạy học tại trường THCS theo hướng phát triển năng lực thẩm mỹ; từ đó KS thực trạng DH; QL dạy học tại các trường THCS thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; đề xuất 06 BP QL dạy học tại các trường trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ theo hướng phát triển năng lực thẩm mỹ”.[16] Tác giả Ngô Thị Kim Hương (2020) với nghiên cứu: “QL HĐ dạy học môn Âm nhạc cho HS trường Trung học cơ sở Lê Quý Đôn, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội theo tiếp cận năng lực. Nghiên cứu đã xác định cơ sở lý luận về QL HĐ dạy học môn Âm nhạc cho HS tại trường THCS theo tiếp cận năng lực. KS, ĐG thực trạng QL HĐ dạy học môn Âm nhạc cho HS trường Trung học cơ sở Lê Quý Đôn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội theo tiếp cận năng lực và đề xuất 6 BP QL HĐ dạy học môn Âm nhạc theo tiếp cận năng học cho HS trường THCS Lê Quý Đôn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội” [10]. Tác giả Nguyễn Trung Đạo (2010) với nghiên cứu “BP QL HĐ GD Âm nhạc của học tập các trường THCS huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La, luận văn đã nghiên cứu cơ sở lý luận về QL HĐ GD Âm nhạc ở trường THCS.
Nghiên cứu thực trạng QL HĐ GD Âm nhạc ở một số trường THCS huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La. Đề xuất một số BP QL HĐ GD Âm nhạc ở trường THCS huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La và khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các BP đề xuất”. Tóm lại, những công trình nghiên cứu về QL HĐDH ở trong và ngoài nước đã có những đóng góp cả về lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu đến tổ chức HĐDH môn nghệ thuật nói chung và QL HĐDH môn nghệ thuật trong trường TH theo chương trình GDPT 2018.
Các khái niệm cơ bản 1. Quản lí Theo Harold Koolz: “QL là một HĐ thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà QL là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. QL là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [ 27].
Theo tác giả Nguyễn Văn Lê: “QL là một công việc vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật”. Ông viết “QL một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào những con người nhằm đạt được hiệu quả tối ưu đã đề ra” [41]. Như vậy có thể khái quát lại: “QL một hệ thống là một khoa học, là một nghệ thuật đồng thời QL còn là một nghề (nghề QL). Muốn điều hành các HĐ của một tổ chức có KQ một cách chắc chắn thì trước tiên các nhà QL phải được đào tạo nghề nghiệp (kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm) một cách chu đáo để phát hiện, nhận thức một cách chuẩn xác và đầy đủ các quy luật khách quan xuất hiện trong quá trình HĐ.
Đồng thời có PP, nghệ thuật thích hợp nhằm tuân thủ đúng các đòi hỏi của các quy luật đó”. Từ những điểm chung trên ta có thể hiểu: “QL là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL lên đối tượng QL nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường”. Dạy học, dạy học môn Nghệ thuật 1. Dạy học HĐ dạy là HĐ truyền đạt thông tin và điều khiển HĐ lĩnh hội và tự điều khiển.
Quá trình dạy học gồm quá trình dạy của GV và quá trình học tập của HS.