CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIN HỌC LỚP 3 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Kể từ năm 1945, khi giáo sư Presper Eckert và sinh viên John Mauchly tại trường Đại học Pennsyvania giới thiệu chiếc máy tính điện tử số thế hệ thứ nhất có tên là ENIAC cho đến nay, khoa học máy tính đã phát triển nhanh như vũ bão. Sau những năm 1960, đã có những nghiên cứu và thử nghiệm về dạy học tin học và kỹ thuật tính, nhưng chủ yếu là qua môn Toán.
Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu mô tả tình hình chung tại các nước trên thế giới là “việc giảng dạy còn nặng về lý thuyết, học sinh không thực hành trên máy” [38]. Vào những năm 70, máy tính bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực nghiên cứu, kinh tế, sản xuất, đời sống và xã hội. Do những đòi hỏi của sự phát triển kinh tế xã hội và sự cho phép của điều kiện kinh tế - kỹ thuật nên tin học đã chính thức được đưa vào trường học. Cho đến những năm 80, nhu cầu sử dụng máy vi tính trong nghiên cứu, giảng dạy, sản xuất, học tập và làm việc đã trở thành một nhu cầu thiết yếu của cuộc sống.
Tại một số quốc gia trên thế giới, môn Tin học đã trở thành một bộ môn quan trọng và được giảng dạy trong các trường phổ thông. Tại bang Connecticut, Hoa Kỳ, môn Tin học đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường Tiểu học với 2 cấp độ: Level 1A áp dụng cho HS từ 5 đến 7 tuổi và Level 1B áp dụng cho HS từ 8-11 tuổi [22]. Tại nước Anh, sau khi hoàn thành chương trình Tiểu học với 2 cấp độ Key Stage 1 và Key Stage 2 thì HS có thể sử dụng máy tính để tạo ra các sản phẩm, lập trình đơn giản, sử dụng và thể hiện các ý tưởng thông qua CNTT [21]. Còn tại nước Úc: tháng 3 năm 2000, Hội đồng Bộ trưởng các nước thành viên đã ủng hộ hướng đi được trình bày trong tài liệu “Cơ cấu chiến lược cho nền kinh tế thông tin” gồm hai mục tiêu giáo dục trường học bao quát cho nền kinh tế thông tin.
Đó là: Thứ nhất, tất cả HS tốt nghiệp phổ thông đều ứng dụng được CNTT và ý thức được tác động của CNTT đối với xã hội. Thứ hai: Ứng dụng CNTT trong dạy học và quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học sẽ tạo môi trường học tập tích cực hơn cho HS [37]. Tại nước Nhật Bản: môn Tin học trở thành môn học chính thức trong chương trình giảng dạy phổ thông từ năm 2002. Khi đã đưa môn Tin học vào giảng dạy, các CBQL lập tức phát sinh nhu cầu có một hệ thống chuẩn chất lượng dạy học Tin học cho HS và làm thế nào để quản lý hệ thống chuẩn này.
Theo Giáo sư Neil Selwyn (tại trường Đại học Monash, Melbourne, nước Úc) năm 1997 có viết: “Do máy tính lần đầu tiên đã được sử dụng rộng rãi tại các trường 6 học, nên người ta lập luận rằng một trong những mục tiêu chính trong dạy học tin học là trang bị cho HS đầy đủ kĩ năng sử dụng. Đánh giá được khả năng sử dụng máy tính của HS là một phần quan trọng trong dạy học Tin học”. Năm 2009, theo 2 nhà QLGD có tên là Anderson và Dexter nhận định: “Nước Hoa Kỳ từ rất sớm cũng đã đưa ra những chính sách rộng rãi và đa dạng nhằm mục đích quản lý việc giảng dạy CNTT trong trường học” [dẫn theo 1]. Đến nay, tin học được phát triển ngày càng nhanh và trở thành nhân tố vô cùng cần thiết trong mọi lĩnh vực.
Trong đó, tin học được sử dụng phổ biến và đặc biệt quan trọng trong giáo dục. Tại Hội nghị Bộ trưởng giáo dục các nước thành viên của Tổ chức diễn đàn hợp tác kinh tế các nước Châu Á-Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 2 tổ chức ngày 07/4/2000 về “Giáo dục trong xã hội học tập ở thế kỷ XXI” xác nhận tầm quan trọng của CNTT trong xã hội học tập. Cũng trong diễn đàn này, các Bộ trưởng đã khẳng định tiềm năng rộng lớn của Tin học trong việc chuẩn bị tương lai cho HS và GV; cung cấp cơ hội học tập suốt đời cho người lớn tuổi. Tin học mang đến sự đổi mới về cách học cho mọi cấp học.
Tin học cũng tạo điều kiện cho việc hợp tác nghiên cứu khoa học và học tập từ xa. Các Bộ trưởng cũng nhấn mạnh phương châm “Giáo dục không biên giới” giữa các thành viên của tổ chức APEC. Tin học trong giáo dục sẽ là giải pháp chiến lược, cấp bách nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế tri thức [40] của thế kỷ XXI. Theo các tư liệu tổng hợp của tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hợp Quốc (UNESCO), có thể rút ra một số nhận xét về việc giảng dạy môn Tin học của một số nước trên thế giới như sau [42]: - Về mục tiêu dạy học môn Tin học: Tuỳ theo điều kiện cụ thể, các nước lựa chọn 1 trong 2 mục tiêu như sau: + Tin học trang bị cho HS những kiến thức, kỹ năng tin học và cần thiết để ứng dụng trong cuộc sống, hỗ trợ cho việc học tập các môn học khác; + Tin học trang bị cho HS những kiến thức về thông tin, máy tính, quá trình xử lý thông tin, kiến thức và kỹ năng sử dụng tin học.
- Về hình thức dạy học môn Tin học: Có 4 hình thức dạy học môn Tin học phổ biến: + Thứ nhất, môn Tin học được bố trí thành một môn học riêng biệt, là môn học bắt buộc, giống như những môn học khác đối với mọi HS (áp dụng tại nhiều bang của Hoa Kỳ, nước Úc.); + Thứ hai, môn Tin học cũng là môn riêng biệt nhưng theo hình thức tự chọn (áp dụng ở một số nước như Đức, Pháp, Hàn Quốc, Ấn Độ, Việt Nam,.); + Thứ ba, môn Tin học được tổ chức dạy dưới dạng ngoại khoá; + Thứ tư, môn Tin học được tích hợp vào các môn học khác. Ở hình thức tích hợp này, hình thức dạy học Tin học được thực hiện theo các dạng như: tin học là một phần riêng biệt, tương đối độc lập trong các môn học khác (áp dụng ở một số nước 7 như: Nhật Bản, Philippin, Canada, một số bang của Hoa Kỳ.); Tin học được tích hợp với một số môn học khác như Toán, Vật lý (áp dụng ở Pháp và một số bang của Hoa Kỳ. Nhiều nước đã lựa chọn phương án dạy Tin học như là một môn học độc lập và theo hình thức tự chọn. - Về chương trình, chuẩn kiến thức: Có 2 mức trong chương trình môn Tin học.
Đó là giáo dục phổ thông mức cơ sở và giáo dục phổ thông mức nâng cao. Chương trình giảng dạy thường được chia thành các mô-đun khác nhau: có mô-đun bắt buộc và có mô-đun lựa chọn. Đánh giá chung: Đa số các nước trên thế giới đều đưa ra các kiến thức tin học, kỹ năng cơ bản của tin học vào giảng dạy ở trường phổ thông với nhiều mức độ và hình thức khác nhau. Cùng với việc nghiên cứu về dạy học môn Tin học, công tác QLGD cũng được quan tâm.
Hiện nay, công tác QLGD đang đứng trước nhiều vấn đề, thách thức và khó khăn. Có nhiều diễn biến bất lợi như ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường. Trong đó, QLGD được gắn với các HĐGD của GV và việc học của HS. Có rất nhiều quan điểm, nghiên cứu khác nhau về QLGD: Theo Johonn Sturm (1635 - 1703), một triết gia nổi tiếng người Đức, đã đề cập đến những vấn đề rất hiện đại của giáo dục như “các nguyên lý giáo dục, việc tổ chức của nhà trường, các giá trị giáo dục, lương GV, mối quan hệ của cha mẹ với nhà trường, kỷ luật và hành vi của HS, vấn đề tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo, việc dạy học theo lớp thay vì dạy học cho từng cá thể, trách nhiệm của GV và nhiều vấn đề khác" trong tác phẩm có tên "Phương thức tốt nhất của việc mở của các thiết chế học tập" [33].
Theo Jan Amôt Cômenxki (1592 - 1670), một nhà giáo dục vĩ đại người Séc đã cho ra đời vấn đề quan trọng trong QLGD ngày nay là "Tổ chức hệ thống giáo dục trên quy mô toàn xã hội” [33]. Giáo sư QLGD người Anh có tên Tony Bush đã đề xuất 6 mô hình quản lý trong các cơ sở giáo dục trong cuốn “Các lý thuyết quản lý giáo dục” xuất bản năm 1995. Trong đó, mô hình xuất hiện sớm nhất là mô hình chính thức, nhấn mạnh tính hệ thống và sự lãnh đạo từ trên xuống trong nhà trường. Năm mô hình quản lý được phát triển sau đó để khắc phục các yếu điểm của mô hình chính thức bao gồm mô hình chính thức, mô hình đồng thuận, mô hình chính trị, mô hình chủ quan, mô hình mập mờ và mô hình văn hoá [dẫn theo 28].
QLGD tiếp tục là nền móng của giáo dục và được các nước trên thế giới quan tâm. Tuy nhiên, hệ thống giáo dục và mô hình QLGD của các nước lại rất đa dạng và khác nhau. Có nhiều nguyên nhân làm ảnh hưởng đến mô hình QLGD như chế độ chính trị - xã hội, thể chế nhà nước; trình độ phát triển kinh tế - xã hội; truyền thống văn hoá và giao lưu quốc tế. Nghiên cứu ở trong nước Ngày 30/10/2003, Bộ GDĐT ban hành Quyết định số 50/2003/QĐ-BGDĐT, trong đó có nhấn mạnh: “Tin học là môn học mang tính khoa học và công nghệ, tốc độ 8 phát triển và thay đổi rất nhanh nên chương trình phải có tính cập nhật cao” [6].
Quyết định này về sau là cơ sở để Bộ GDĐT tham khảo và ban hành Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/05/2006 về chương trình GDPT 2006 [7]. Sau khi các quyết định mang tính quy phạm pháp luật đã ban hành cho đến 10 năm sau, hầu như không có các nghiên cứu nào trong nước về quản lý chất lượng dạy học Tin học trong trường Tiểu học. Ngày 06/02/2017, Chính phủ và ngân hàng thế giới đã kí kết hiệp định số 5857- VN tài trợ cho chương trình phát triển trường sư phạm để nâng cao năng lực GV và CBQL cơ sở giáo dục phổ thông (chương trình ETEP). Ngày 26/12/2018, Bộ GDĐT đã ban hành Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT về Ban hành chương trình GDPT 2018 [8].