Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Đầu những năm 50 của thế kỷ XX, trong hàng loạt những công trình nghiên cứu có tính hàn lâm của các nhà khoa học Liên Xô, đã xuất hiện các đề tài về những khía cạnh khác nhau của QL giáo dục. Năm 1956, lần đầu xuất hiện cuốn “QL trường học” (Skolovedenie) của tác giả A.Pôpốp [38], một nhà sư phạm và QL giáo dục của Liên Xô cũ. Cuốn sách này, về thực chất, không phải là một công trình khoa học về QL giáo dục, mà là cả một tập hợp khá hoàn chỉnh các chỉ dẫn cho HĐ thực tiễn của những người làm công tác QL giáo dục, đặc biệt là QL trường học, trong đó có QL HĐ DH.
Trong quá trình phát triển giáo dục Xô Viết, nhiều nhà nghiên cứu khoa học giáo dục đã lần lượt cho ra đời những tài liệu vừa có tính khoa học, vừa có tính thực tiễn về QL hai quá trình sư phạm chủ yếu diễn ra trong nhà trường: DH và giáo dục. Sự tập trung của những kiến giải đó được thể hiện cụ thể trong các tác phẩm xuất bản vào giữa những năm 70.I Kôndakốp, nhà lý luận và HĐ thực tiễn xuất sắc của Liên Xô đã dày công nghiên cứu những vấn đề về QL giáo dục [27]. Năm 1987, Viện QL và Kinh tế giáo dục thuộc Viện Hàn lâm sư phạm (Liên Xô cũ) đã tổng kết những thành tựu nghiên cứu về QL trường học qua nhiều năm, trình bày những quan điểm mới nhất về QL giáo dục nói chung và QL HĐ dạy hoc nói riêng của các học giả Xô Viết (cũ) tính đến thời điểm đó [46]. Tại các nước phương Tây, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn QL giáo dục nói chung và QL HĐ DH nói riêng cũng rất sôi động.
Campbell đã cho ra đời công trình đầu tiên nghiên cứu khá hoàn chỉnh các vấn đề QL giáo dục dưới ánh sáng 5 của các học thuyết QL chung, đặc biệt là thuyết hành vi (quan hệ con người) trong QL [50]. Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế, Việt Nam đã và đang bước vào hội nhập với khu vực và quốc tế. Trong bối cảnh đó, nền giáo dục Việt Nam cần đẩy nhanh tiến trình đổi mới để rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giáo dục với các nước trong khu vực và trên thế giới. Các thành tựu nghiên cứu giáo dục đã thừa nhận QL giáo dục là nhân tố then chốt đảm bảo cho sự thành công của phát triển giáo dục.
Vấn đề này đặt ra cho các nhà QL giáo dục phải hết sức nỗ lực trong công tác QL của mình. Ở nước ta, nhiều nhà nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề về vị trí, vai trò của việc QL HĐ DH, ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng DH trên lớp đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục. Những ưu điểm và nhược điểm của việc QL HĐ giáo dục trên lớp, bản chất và mối quan hệ giữa QL HĐ DH và HĐ học, QL vai trò của người dạy và người học, QL đổi mới nội dung và cách thức tổ chức tiến hành các hình thức tổ chức DH trên lớp, điển hình là các tác giả: Đặng Quốc Bảo [2], Trần Kiểm [24], Nguyễn Thị Mỹ Lộc [30], Hà Thế Ngữ [35], Nguyễn Ngọc Quang [39]… Trong những năm gần đây đứng trước nhiệm vụ đổi mới giáo dục và đào tạo nói chung và đổi mới HĐ DH nói riêng, nhiều nhà nghiên cứu trong đó có những nhà Giáo dục học, Tâm lý học đã đi sâu nghiên cứu vấn đề đổi mới QL HĐ DH nhằm nâng cao tính hiện đại, gắn khoa học với thực tiễn sản xuất và đời sống, vấn đề lấy HS làm trung tâm trong HĐ DH như: Phạm Minh Hạc [17], Đặng Thành Hưng [20], Bùi Văn Quân [40], Phạm Viết Vượng [48]. Như vậy, QL DH nói chung và QL DH học trong môn TN - XH nói riêng, đó chính là sự tác động có mục đích lên chủ thể giáo dục, cụ thể là môn TN - XH cả về kế hoạch HĐ giáo dục, nội dung chương trình, kế hoạch bài dạy, giám sát quá trình thực hiện, HĐ kiểm tra đánh giá môn học cũng như các điều kiện để thực hiện môn học.
Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nào bàn luận, nghiên cứu 6 sâu đến QL HĐ DH trong nhà trường Tiểu học nói chung và QL HĐ DH môn TN - XH trong nhà trường Tiểu học nói riêng. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Khái niệm QL là một hiện tượng xã hội, là yếu tố cấu thành sự tồn tại và phát triển của loài người. Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng trải qua nhiều hình thức QL khác nhau.
Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của QL trong sự ổn định và phát triển của xã hội. QL là một phạm trù khách quan là một tất yếu lịch sử. Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về QL dưới góc độ khác nhau. Taylor được coi là cha đẻ của thuyết QL khoa học đã cho rằng cốt lõi trong QL là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và phải QL chặt chẽ”, “QL là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và cái đó thế nào bằng PP tốt nhất và rẻ nhất” [Dẫn theo 20] Theo tác giả Hà Sỹ Hồ thì: “QL là một quá trình HĐ có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong các tác động có thể dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [dẫn theo 21].
Còn tác giả Nguyễn Ngọc Quang đưa ra khái niệm: “QL là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến những người lao động (khách thể QL) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [17] Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: HĐ QL là: “Tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[7] Có thể thấy bản chất chung của khái niệm QL là một quá trình tác động có ý thức, có định hướng và có tổ chức của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt 7 được mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả nhất trong điều kiện biến động của môi trường. QL có các chức năng cụ thể như: Chức năng lập kế hoạch; Chức năng tổ chức; Chức năng chỉ đạo và kiểm tra. Các chức năng này có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình QL khép kín, tạo hiệu quả trong quá trình QL. Như vậy, có thể hiểu: QL là sự tác động có ý thức, có mục đích của chủ thể QL đến đối tượng QL nhằm thực hiện các mục tiêu đã đề ra.
HĐ dạy học DH là quá trình gồm hai HĐ thống nhất biện chứng: HĐ dạy của GV và HĐ học của HS. Trong đó dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của GV, người học tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển HĐ học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ học tập. Trong quá trình DH, HĐ dạy của GV có vai trò chủ đạo, HĐ học của HS có vai trò tự giác, chủ động, tích cực. Nếu thiếu một trong hai HĐ trên, quá trình DH không diễn ra.
Trước đây, người ta hiểu hoạt động sư phạm chỉ là hoạt động của người thầy. Người thầy đóng vai trò trung tâm trong quá trình dạy và học. Trong hoạt động sư phạm, người thầy chủ động từ việc chuẩn bị nội dung giảng dạy, phương pháp truyền thụ, đến những lời chỉ dẫn, những câu hỏi, v. Còn HS tiếp nhận thụ động, học thuộc để “trả bài”.
Người thầy giữ “chìa khoá tri thức”, cánh cửa tri thức chỉ có thể mở ra từ phía hoạt động của người thầy. Quan niệm này hiện nay đã lỗi thời, bị vượt qua. Vì rằng, từ góc độ khoa học sư phạm, quan niệm trên chỉ chú trọng hoạt động một mặt, hoạt động của người thầy mà không thấy được mặt kia của hoạt động sư phạm là hoạt động của trò. HĐ DH là HĐ tương tác có tính đặc thù.
HĐ DH là HĐ được thực hiện theo một chiến lược, chương trình đã được thiết kế, tác động đến người học nhằm hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của người học. GV xây dựng, thiết kế HĐ DH một cách đầy đủ và cụ thể bao nhiêu thì công việc DH càng hiệu quả bấy nhiêu. Ý kiến của Davydov: “Các HĐ dạy- học là các 8 HĐ cùng nhau của thầy và trò”[dẫn theo 13] đã chỉ ra sự tương tác trong HĐ DH mang tính đặc thù. Nói là đặc thù vì: Thứ nhất, HĐ DH nằm trong chuỗi HĐ của con người nhưng là HĐ nghề nghiệp, không phải là HĐ của mọi người.
Người HĐ DH phải có tiêu chuẩn và năng lực nghề nghiệp mới tham gia được HĐ này. Thứ hai, HĐ DH là HĐ tương tác. GV tác động vào HS, HS phát triển, GV căn cứ vào sự thay đổi ở HS để điều chỉnh HĐ dạy. Như vậy, HĐ DH là “HĐ cùng nhau của thầy và trò”.
Thầy và trò cùng hướng về một mục tiêu. Năng lực của HĐ dạy của người thầy và năng lực học của HS được thể hiện ở các mức độ đạt được của mục tiêu chương trình giáo dục đề ra. Do vậy, HĐ dạy có kết quả khi nó tác động cùng hướng với HĐ học. HĐ DH có tính tương tác ở chỗ, nó phải bắt nhịp cùng người học, là người tham gia HĐ học cả về trí tuệ và tình cảm.
Thứ ba, HĐ DH nhìn từ phía HĐ của người thầy trong tương tác với HĐ học của trò là hướng dẫn, tổ chức và điều khiển HĐ học của HS. Nguyễn Thị Thanh Huyền định nghĩa về DH: “Dạy học là một quá trình trong đó dưới vai trò tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo của GV, HS tự giác tích cực tự tổ chức HĐ học tập nhằm phát triển PC, NL theo kết quả mong đợi và yêu cầu đề ra”[14] Như vậy, trong HĐ DH, HĐ của GV là một khâu quan trọng.