CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Vấn đề về KNS và giáo dục KNS cho học sinh 1.
Nghiên cứu ngoài nước Tầm quan trọng của KNS và giáo dục KNS được khẳng định và nhấn mạnh trong Kế hoạch hành động DaKar về giáo dục cho mọi người (Senegan 2000). Theo đó, mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục KNS phù hợp. Người ta coi KNS là của người học là một tiêu chí về chất lượng giáo dục. Đánh giá chất lượng giáo dục có tinh đến những tiêu chí đánh giá KNS của người học.
Vì vậy, vấn đề về KNS và giáo dục KNS được các nước trên thế giới triển khai thực hiện như: - Ở Malaysia, KNS được Bộ Giáo dục xem là môn kỹ năng của cuộc sống và môn này được dạy như một môn học ở trường tiểu học và THCS. Mục tiêu của môn học này ở trường tiểu học là cung cấp cho người học những kỹ năng thực tể cơ bản để họ có thể thực hiện các nhiệm vụ và có xu hướng kinh doanh. Còn ở bậc THCS thì mục tiêu là tạo ra những cá nhân có thể tự thực hiện, được xoá mù về công nghệ và kinh tế, là người có sự tự tin, sáng tạo, khả năng tương tác hiệu quả với người khác. [3] - Singapore, ngoài việc được đánh giá là một nước có nền kinh tế năng động bậc nhất của Châu Á, còn được đánh giá là một đất nước có nền giáo dục tiên tiến, hiện đại, luôn dẫn đầu trong việc áp dụng những phương pháp giáo dục mang tính hiệu quả cao.
Hàng loạt chương trình giáo dục được xây dựng và tiến hành giảng dạy ở các trường đại học tổng hợp, đại học bách khoa của các nước này đã được tiến hành mạnh mẽ, linh hoạt, phù hợp với nhiều đối tượng học sinh. Các bộ môn về KNS đóng vai trò trung tâm trong chương trình học tập ở các cấp học, với khẩu hiệu “Sống để học tập, vui chơi, giải trí và học tập để sống”. Các hoạt động giáo dục trong nhà trường được kết hợp nhuần nhuyễn với các hoạt động cộng đồng. [3] 7 - Tổ chức văn hóa khoa học và giáo dục Liên hợp quốc ( UNESCO) đã đưa ra nguyên tắc cơ bản để định hướng giáo dục KNS trong thực tiễn: “Tất cả thế hệ trẻ và người lớn có quyền hưởng lợi từ một nền giáo dục chứa đựng cáchợp phần học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người và học để khẳng định mình.
Giáo dục hướng vào yêu cầu bồi dưỡng năng khiếu tiềm năng và phát triển cá tính người học cần quan tâm kết hợp kỹ năng thực hành và các khả năng tâm lí xã hội, đánh giá chất lượng giáo dục phải bao hàm đánh giá mức độ đạt được các KNS và tác dụng của KNS đối với xã hội và cá nhân” [3] - Hội nghị Thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em, họp ngày 20 – 30/03/1990 tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York đã tuyên bố: “Tất cả trẻ em trên thế giới đều trong trắng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc. Đồng thời các em ham hiểu biết, ham hoạt động và đầy ước vọng. Tuổi của các em phải được sống trong vui tươi, thanh bình, được chơi, được học và phát triển. Tương lai của các em phải được hình thành trong sự hoà hợp và hợp tác” [1].
Nhận định trên muốn nhấn mạnh đến nhiệm vụ học tập, môi trường học tập dành cho trẻ em cần phải được quan tâm đúng cách. Học sinh đến trường không chỉ học để có tri thức mà cần phải biết cách học để có sức khoẻ, có kỹ năng nghề nghiệp, có những giá trị đạo đức, thẩm mỹ, nhân văn đúng đắn vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội, vừa đậm đà bản sắc dân tộc lại vừa mang tính phổ quát toàn cầu,. tức là mỗi học sinh luôn phải học, tự học những kỹ năng nhất định trong môi trường thích hợp để tồn tại và phát triển. Mặc dù các quốc gia đều thống nhất trong nhận thức về tầm quan trọng của KNS và giáo dục KNS cho thế hệ trẻ nhưng thực tiễn triển khai giáo dục KNS cho thế hệ trẻ vẫn gặp những trở ngại nhất định, đặc biệt là trong quản lý, điều hành giáo dục KNS.
Nguyên do: Trước hết vì chưa có định nghĩa rõ ràng, đầy đủ về KNS, về các KNS cơ bản cũng như các tiêu chuẩn, tiêu chí đồng bộ cho việc đánh giá hoạt động giáo dục KNS nên thiếu định hướng cho việc hoạch định chương trình giáo dục KNS ở các nước [2; 3]. Thứ hai, hầu hết các tổ chức quốc tế thường đưa ra các định nghĩa và ấn định những mục tiêu không phù hợp hoặc khó có thể áp dụng 8 một cách hiệu quả tại các nước [8]. Thứ ba, ngay cả những quốc gia đã có chương trình giáo dục KNS nhưng cũng chưa khẳng định được phương thức hiệu quả để thực hiện chương trình này. Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam thuật ngữ KNS bắt đầu được biết đến từ chương trình dự án “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ GD&ĐT cùng Hội Chữ Thập đỏ Việt Nam thực hiện năm 1996.
Thông qua quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm KNS và giáo dục KNS ngày càng được mở rộng. Tổ chức Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc UNICEF quan niệm về KNS “Kỹ năng sống là những hành vi cụ thể thể hiện khả năng chuyển đổi kiến thức và thái độ thành hành động thích ứng trong cuộc sống. Kỹ năng sống phải dựa trên nhận thức, thái độ và chuyển biến thành hành vi như một yêu cầu liên hoàn và có hướng đích” [38] Một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về kỹ năng sống và giáo dục KNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình. Với một loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo.Tác giả và cộng sự đã triển khai nghiên cứu tổng quan về quá trình nhận thức về kỹ năng sống và đề xuất yêu cầu tiếp cận kỹ năng sống trong giáo dục và giáo dục KNS ở nhà trường phổ thông, đồng thời tìm hiểu thực trạng giáo dục KNS cho người học từ trẻ mầm non đến người lớn thông qua giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên ở Việt Nam.
Trên cơ sở đó xác định thách thức và định hướng trong tương lai để đẩy mạnh giáo dục KNS ở Việt Nam trên cơ sở thực tiễn ở Việt Nam và đối chiếu với mục tiêu 3 và mục tiêu 6 của Chương trình hành động Dakar (Trong khuôn khổ hợp tác giữa Viện chiến lược và chương trình giáo dục với UNESCO tại Hà Nội). Theo chuyên gia tâm lý Hoàng Minh Thao quan niệm KNS “Kỹ năng sống chính là những kỹ năng tinh thần hay kỹ năng tâm lý, kỹ năng tâm lý – xã hội cơ 9 bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống. Những kỹ năng này giúp cho cá nhân thể hiện được chính mình cũng như tạo ra những nội lực cần thiết để thích nghi và phát triển” [35] Tác giả Ngô Thị Tuyên trong cuốn “Cẩm nang giáo dục cho học sinh tiểu học” (44) đã chỉ ra rằng kỹ năng sống là sản phẩm bắt buộc phải có của giáo dục nhà trường. Tác giả đưa ra khái niệm về kỹ năng sống, các loại kỹ năng sống, vị trí vai trò của kỹ năng sống trong giáo dục nhà trường, phương pháp giáo dục kỹ năng sống và trình bày phương pháp xây dựng một chương trình học tập, nguyên tắc chọn nội dung và và hướng dẫn giáo viên phương pháp giáo dục cho trẻ bằng việc làm để có được sản phẩm là kỹ năng sống.
Tác giả Nguyễn Dục Quang trong cuốn “Hướng dẫn Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông” (34) cho rằng: “Cách thức giáo dục kỹ năng sống được hiểu bao gồm những phương pháp tiếp cận, các phương pháp dạy học tích cực và các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cần quan tâm đến vai trò của người học”. Tác giả Vũ Minh trong bài báo “Dạy kỹ năng sống cho trẻ cả giáo viên và gia đình lúng túng” (27) đã chỉ ra vai trò quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học và những bất cập trong việc triển khai giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khi chưa có một giáo trình thống nhất và bản thân giáo viên còn rất lúng túng trong việc giáo dục KNS lồng ghép vào các môn học. Tuy nhiên tác giả chưa nghiên cứu và đưa ra những giải pháp cụ thể khắc phục tình trạng này. Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Thị Thúy Hằng- Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh tiểu học, tài liệu dùng cho giáo viên tiểu học - cho rằng: Thiếu nền tảng giá trị sống vững chắc con người rất dễ bị ảnh hưởng bởi những giá trị vật chất, và rồi mau chóng định hình chúng thành mục đích sống, đôi khi đưa đến kiểu hành vi thiếu trung thực, bất hợp tác, vị kỉ cá nhân.
Không có nền tảng giá trị sống chúng ta sẽ không biết cách tôn trọng bản thân và người khác, không biết cách hợp tác, không biết cách xây dựng tình đoàn kết trong mối quan hệ, không biết cách thích ứng trước những đổi thay…vì vậy cần giáo dục 10 giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh, giúp các em nâng cao năng lực để tự lựa chọn giữa các giải pháp khác nhau, quyết định phải xuất phát từ học sinh. Học sinh phải tham gia chủ động vào các hoạt động giáo dục kỹ năng sống mới làm thay đổi hành vi của các em. Tài liệu cũng đưa ra các phương pháp giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống và cách thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học. [23] Các nhà giáo dục từ trước đến nay đã khẳng định: Kỹ năng sống là những kỹ năng cần có cho hành vi lành mạnh, tích cực cho phép mỗi cá nhân đối mặt với những thách thức của cuộc sống hàng ngày.
Nếu con người có các kỹ năng sống thì sẽ có khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. Do đó, cần thiết phải GDKNS cho học sinh.