phần mở đầu, kết luận và phần kiến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh lớp 2 theo hướng tiếp cận năng lực ở trường tiểu học. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh lớp 2 ở các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh lớp 2 theo hướng tiếp cận năng lực ở các trường tiểu học huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu trên thế giới Trong chương trình giáo dục của mỗi nước, bên cạnh các hoạt động dạy và học qua các môn học còn có chương trình hoạt động ngoài các giờ học. Ở đó học sinh thông qua các hoạt động đa dạng và phong phú gắn với thực tiễn để trải nghiệm, thử sức. HĐTN được tổ chức tốt sẽ giúp học sinh phát triển hài hòa cả thể chất lẫn tinh thần, do đó các nghiên cứu về tổ chức hoạt động giáo dục cho HS được quan tâm nghiên cứu.
Vấn đề phát triển con người toàn diện luôn được sự quan tâm của các nhà GD nổi tiếng trong từng thời kỳ phát triển của lịch sử. Đó là các quan điểm GD của Thomas More, J.Comenxki, Petxtalogi, Robert Owen. Song quan điểm con người phát triển toàn diện thực sự được nghiên cứu một cách khoa học từ khi học thuyết giáo dục Mac-xit ra đời. Học thuyết giáo dục của C.Ăngghen là một bộ phận của chủ ngh a cộng sản khoa học, nó được hoàn thiện dần bằng tư tưởng giáo dục v đại của V.Lênin, cống hiến xuất sắc của N.Makarencô và các nhà GD học Xô viết khác.
Từ giữa thế kỉ XX, John Dewey với tác phẩm: “Experience and Education”, “The school and Society” đã chỉ ra hạn chế của GD nhà trường và đưa ra quan điểm về vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục. Với triết lý GD đề cao vai trò của kinh nghiệm, Dewey cũng chỉ ra rằng, những kinh nghiệm có ý ngh a GD giúp nâng cao hiệu quả giáo dục bằng cách kết nối người học và những kiến thức được học với thực tiễn. Năm 1984, trên cơ sở những nghiên cứu của Dewey, Lewin, Piaget, Lev Vygotsky và các nhà nghiên cứu khác về kinh nghiệm và học tập dựa vào kinh nghiệm, David Kolb - Nhà lý luận GD Hoa Kỳ đã nghiên cứu và cho xuất bản một công trình về học tập dựa vào trải nghiệm: “Study experience: Experience is the source of Learning and Development”. David Kolb đã chính thức giới thiệu lý 6 thuyết học tập dựa vào trải nghiệm, cung cấp một mô hình học tập dựa vào trải nghiệm để ứng dụng trong trường học.
Các kinh nghiệm học tập liên quan đến việc áp dụng các thông tin nhận được từ giáo dục đến kinh nghiệm của người học. Các học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức của mình từ các GV mà thay vào đó, người học thông qua quá trình trải nghiệm dựa trên các kinh nghiệm hiện có của bản thân để thu nhận thông tin mới trong môi trường học tập thực tiễn và kiểm tra nó lại bằng kinh nghiệm của mình. Đến năm 1977, với sự thành lập của “Hiệp hội Giáo dục trải nghiệm” (Association for Experiential Education-AEE), “Giáo dục trải nghiệm” đã chính thức được thừa nhận bằng văn bản và được tuyên bố rộng rãi “Giáo dục trải nghiệm” bước thêm một bước tiến mạnh mẽ hơn khi vào năm 2002, tại Hội nghị thượng đỉnh Liên hiệp quốc về phát triển bền vững, chương trình: “Dạy và học vì một tương lai bền vững” đã được UNESCO thông qua, trong đó có học phần quan trọng về “Giáo dục trải nghiệm” được giới thiệu, phổ biến và phát triển sâu rộng. Ngày nay, “Giáo dục trải nghiệm” đang tiếp tục phát triển và hình thành mạng lưới rộng lớn được những cá nhân, tổ chức giáo dục, trường học trên toàn thế giới ứng dụng.
UNESCO cũng nhìn nhận “Giáo dục trải nghiệm” như là một triển vọng tương lai tươi sáng cho GD toàn cầu trong các thập kỷ tới, điển hình là mô hình tổ chức HĐTN sáng tạo ở một số nước như: Chương trình mới của Singapore được xây dựng theo định hướng phát triển các năng lực thế kỉ 21 cho HS. Hội đồng nghệ thuật quốc gia có chương trình GD nghệ thuật, cung cấp, tài trợ cho nhà trường phổ thông toàn bộ chương trình của các nhóm nghệ thuật, những kinh nghiệm sáng tạo nghệ thuật,. Năm 2009, một trong những đổi mới của chương trình giáo dục Hàn Quốc là: “hoạt động trải nghiệm”. Hoạt động trải nghiệm là những hoạt động nằm ngoài hệ thống các môn học trong nhà trường, đó là những hoạt động: Hoạt động tự chủ, hoạt động câu lạc bộ, hoạt động từ thiện, và hoạt động hướng nghiệp.
Hoạt động ở trường, HS có thể lựa chọn để tham gia vào một số hoạt động ngoài chương trình giảng dạy bắt buộc, chúng được thiết kế để hỗ trợ và phát triển. Ở Cộng hòa liên bang Đức: Từ cấp tiểu học đã nhấn mạnh đến vị trí của các 7 k năng cá biệt, trong đó có phát triển k năng sáng tạo cho trẻ; phát triển khả năng học độc lập; tư duy phê phán và học từ kinh nghiệm của chính mình. Giáo dục Nhật Bản chú trọng việc nuôi dưỡng cho trẻ năng lực ứng phó với sự thay đổi của xã hội, hình thành một cơ sở vững mạnh để khuyến khích trẻ sáng tạo. Colombia là nước khởi nguồn của mô hình VNEN, từ năm 1992 trẻ em nghèo của nước này đã được GD bằng cách thực hành thay vì học để thi và kết quả là những trẻ em nghèo học trong trường học theo mô hình này phát triển tốt các hơn bạn cùng lứa trong các trường học truyền thống.
Lúc này dạy học theo mô hình VNEN được các thành phố của Colombia xem xét như một con đường phá vỡ mô hình trường công truyền thống. Có thể thấy đây là những kinh nghiệm quý giá để chọn lọc, vận dụng phù hợp vào bối cảnh Việt Nam nhằm đổi mới GD theo hướng phát triển năng lực người học đáp ứng yêu cầu mới. Những nghiên cứu ở Việt Nam Một số vấn đề chung về HĐTN và quản lý HĐTN đã được bàn nhiều trong các công trình nghiên cứu lí luận dạy học, quản lý GD. Đó là sơ sở để xem xét những nghiên cứu về HĐTN sáng tạo cho học sinh tiểu học.
Một số bài viết, luận văn đã đi sâu vào nghiên cứu HĐTN cho học sinh trung học phổ thông như: Tác giả Bùi Ngọc Diệp với bài viết Hình thức tổ chức các HĐTN sáng tạo trong nhà trường phổ thông. Trong bài viết tác giả nhấn mạnh quan niệm về HĐTN sáng tạo. Theo tác giả HĐTN sáng tạo là các hoạt động giáo dục thực tiễn được tiến hành song song với hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông. Bài viết nghiên cứu một số loại hình của HĐTN sáng tạo như hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, các hội thi, hoạt động giao lưu, hoạt động nhân đạo, hoạt động tình nguyện, hoạt động cộng đồng, sinh hoạt tập thể, lao động công ích, bảo quản đền thờ liệt s , tham gia đình chính sách, mẹ Việt Nam Anh Hùng, sân khấu hóa kịch, thơ, hát, múa rối, tiểu phẩm, kịch tham gia,.), thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội,.
Mỗi hình thức hoạt động trên đều mang ý ngh a giáo dục nhất định. Tác giả Trần Thị Gái với bài viết “Vận dụng mô hình trải nghiệm của David 8 Kolb để xây dựng chu trình hoạt động trải nghiệm trong dạy học sinh học ở trường phổ thông”, Tạp chí Khoa học: Nghiên cứu Giáo dục, Tập 33, Số 3 2017) tr1-6 bài viết trình bày về cách thức vận dụng chu trình học trải nghiệm của David Kolb vào thiết kế HĐTN cho HS trong dạy học Sinh học. Dựa vào mục tiêu, nội dung kiến thức bài học và phong cách học tập HS, GV thiết kế các nhiệm vụ học tập ở 4 giai đoạn của chu trình trải nghiệm: trải nghiệm cụ thể, quan sát phản ánh, trừu tượng hóa khái niệm và thử nghiệm tích cực. Mỗi giai đoạn trải nghiệm có thể có nhiều dạng hoạt động học tập khác nhau, GV cần lựa chọn dạng hoạt động phù hợp cho mỗi giai đoạn và ghép nối các giai đoạn thành một chu trình khép kín để tổ chức dạy học.
Bài viết cũng đã đưa ra ví dụ minh họa cho việc vận dụng chu trình trải nghiệm trong việc thiết kế và sắp xếp các hoạt động cho một nội dung cụ thể trong môn Sinh học. Phan Thị Thảo Nguyên (2019). Quản lý HĐTN của học sinh Trường Tiểu học Thái Nguyên thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới. Luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Việt Nam, 143tr.
Luận văn nghiên cứu cơ sở lí luận quản lý HĐTN của HS tại trường trung học cơ sở. Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý HĐTN của HS trường Trung học cơ sở Thái Nguyên thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới. Đề xuất các biện pháp quản lý HĐTN của HS trường Trung học cơ sở Thái Nguyên, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo định hướng Chương trình GD phổ thông mới. Quản lý HĐTN cho HS trường tiểu học tư thục Trương V nh Ký, Thị Trấn Đak Đoa, Tỉnh Gia Lai.
Luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Việt Nam, 114tr. Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý HĐTN cho HS ở trường tiểu học như khái niệm, đặc điểm, vai trò của HĐTN. Bên cạnh đó tác giả khảo sát, đánh giá thực trạng HĐTN và quản lý HĐTN cho HS Trường Tiểu học tư thục Trương V nh Ký, Thị trấn Đak Đoa, Tỉnh Gia Lai. Đề xuất một số biện pháp quản lý HĐTN cho học sinh Trường Tiểu học tư thục Trương V nh Ký, thị trấn Đak Đoa, Tỉnh Gia Lai.
Tác giả Lê Thị Thương 2020) luận văn Thiết kế HĐTN trong dạy học văn 9 học dân gian cho học sinh lớp 10. Luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Việt Nam. Trong luận văn tác giả đã khái quát các nghiên cứu đi trước có liên quan đến đề tài, nghiên cứu xu thế quốc tế có liên quan đến đề tài HĐTN; nghiên cứu các vấn đề về dạy học đọc hiểu của HS; các lý thuyết HĐTN thông qua văn học dân gian Việt Nam để làm cơ sở lý luận cho đề tài.