chương 1,2, chúng tôi đề xuất sáu nhóm biện pháp QL hoạt động bồi dưỡng NLDH cho đội ngũ GV các trường TH huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Tùy theo điều kiện, tình hình thực tế của từng nhà trường để lựa chọn vận dụng cho phù hợp để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ GV. [13] Vũ Thị Thanh (2017), “Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay”, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động bồi dưỡng GV trung học cơ sở trên địa bàn huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, tác giả đã xuất các biện pháp QL hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, đó là: Tổ chức điều tra khảo sát đánh giá GV để xây dựng kế hoạch cho hoạt động bồi dưỡng; Huy động các nguồn lực tổ chức hoạt đông bồi dưỡng GV; Tổ chức xây dựng nội dung chương trình bồi dưỡng theo yêu cầu đổi mới giáo dục; Chỉ đạo đa dạng hóa phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động bồi dưỡng GV,.[25] Nguyễn Thị Thu Thơm (2020), “Quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV trung học cơ sở khu vực miền núi phía bắc theo định hướng đổi mới giáo dục phổ thông”, Luận án tiến sỹ, Trường Đại học Sư Phạm - Đại học 9 Thái Nguyên.
Luận án đã góp phần làm phong phú thêm lý luận về bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV và quản lý bồi dưỡng NLDH cho giáo việc THCS theo định hướng đổi mới giáo dục phổ thông.[26] Ngoài ra cũng có một số bài viết nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học nói chung và dạy học trực tuyến nói riêng cho GV được đăng trên các tạp chí như: Nguyễn Thị Thu Thơm (2020), “Kinh nghiệm về quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên tại một số quốc gia trên thế giới và bài học áp dụng cho Việt Nam”, đăng trên Tạp chí Giáo dục số 474. Bài viết đã nghiên cứu kinh nghiệm quản lý hoạt động bồi dưỡng NLDH cho GV từ thực tiễn của các nước như Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc, Pháp, Hoa Kì, Đức để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam với các nội dung như Xây dựng và sử dụng Chuẩn nghề nghiệp GV trong chương trình đào tạo giáo dục ban đầu và thường xuyên có các chương trình hỗ trợ, bồi dưỡng cho GV; Xây dựng và thực hiện đánh giá kết quả bồi dưỡng năng lực theo Chuẩn nghề nghiệp; Tăng cường sự phối hợp, hợp tác giữa nhà trường, tổ chức bên ngoài nhà trường nhằm huy động tối đa các nguồn lực để bồi dưỡng NLDH cho GV; Thực hiện phân cấp bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng sao cho phù hợp.[27] Đỗ Viết Long, Trần Văn Hiếu (2020), “Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên tiểu học theo định hướng đổi mới giáo dục phổ thông tại huyện Krong Năng, tỉnh Đắk Lắk”, đăng trên Tạp chí Giáo dục số 482. Bài viết đã nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng GV TH tại huyện Krong Năng thông qua khảo sát hơn 250 cán bộ quản lý và GV của 19/27 trường TH. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bồi dưỡng GV TH theo định hướng đổi mới giáo dục phổ thông.
[20] Từ các nghiên cứu trên có thể thấy nghiên cứu về bồi dưỡng năng lực dạy học nói chung, dạy học trực tuyến nói riêng và quản lý hoạt động BDNLDHTT được nhiều tác giả thực hiện ở những khía cạnh, góc độ khác nhau, trong đó chủ yếu là dưới góc độ QLGD. Trong nghiên cứu này, các tác 10 giả đã tập trung giải quyết các vấn đề thực tiễn cụ thể ở các địa bàn nghiên cứu. Riêng vấn đề quản lý hoạt động BDNLDHTT cho GV TH thì chưa được nghiên cứu nhiều, đặc biệt vấn đề quản quản lý hoạt động BDNLDHTT cho GV TH tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương thì chưa được tác giả nào quan tâm và nghiên cứu. Vì vậy thực hiện đề tài này, tác giả mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động BD NLDH trực tuyến cho GV TH của huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý giáo dục, quản lý trường tiểu học 1. Quản lý giáo dục QLGD ra đời, hình thành và phát triển là một tất yếu vì giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là hoạt động nhằm thực hiện quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội qua các thế hệ, đồng thời là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Như vậy QLGD là một loại hình QL xã hội.
Để hoạt động giáo dục thực sự có hiệu quả thì tất yếu giáo dục phải được tổ chức theo một hệ thống chặt chẽ gồm các CSGD. Do vậy, cần có công tác QLGD để QL các CSGD. Có nhiều tác giả đưa ra các quan niệm khác nhau về QLGD: Theo Nguyễn Ngọc Quang (1989) định nghĩa: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL (hệ giáo dục), nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà điểm hội tụ là QTDH - giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [23, tr.34] Theo tác giả Đặng Quốc Bảo (2007) định nghĩa: “QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội” [3, tr.45] Từ những khái niệm trên, có thể hiểu: QLGD là QL hệ thống giáo dục, là sự tác động có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể 11 QL lên đối tượng QL theo những quy luật khách quan, nhằm đưa hoạt động của hệ thống giáo dục đạt kết quả mong muốn. Ngày nay, với quan điểm học tập thường xuyên, học tập suốt đời, xã hội học tập, nó không chỉ giới hạn ở lớp trẻ mà cho toàn dân, nên QLGD có thể được hiểu theo nghĩa rộng là sự điều hành hệ thống GDQD nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, BD nhân tài đáp ứng quá trình CNH – HĐH đất nước.
Quản lý trường tiểu học Quản lý trường học là một trong những nội dung quan trọng của hệ thống QLGD nói chung. QLGD không thể tách rời công tác QL trường học. Quản lý trường học chính là quản lý các cơ sở của ngành giáo dục. Quản lý trường học bao gồm hệ thống những tác động sư pha ̣m khoa học và có tính định hướng của chủ thể quản lý đến tập thể GV, học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm làm cho trường học có thể vận hành theo đúng đường lối và nguyên lý giáo du ̣c của Đảng và Nhà nước.
Trường tiểu học là nền tảng cho giáo dục phổ thông. Theo Luật Giáo dục định nghĩa: “Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng cho hệ thống giáo dục quốc dân”. Bậc tiểu học là nền móng giúp trẻ hình thành những nét cơ bản của nhân cách. Do vậy, giáo dục ở bậc học này có tính chất đặc biệt, có bản sắc riêng.
Như vậy có thể hiểu, quản lý trường tiểu học bao gồm quản lý các “ quan hệ nội bộ của trường tiểu học và quan hệ giữa trường tiểu học và xã hội. Bản chất của công tác quản lý trường tiểu học là quá trình chỉ huy, điều khiển, vận động các thành tố, đặc biệt là mối quan hệ giữa các thành tố phát sinh trong quá trình dạy học trong trường tiểu học. ” Có thể thấy, quản lý trường tiểu học bao gồm quản lý các hoạt động (dạy học, giáo dục.), quản lý các nguồn lực (nguồn nhân lực, vật lực, tài lực. Trong đó, cốt lõi quan trọng của quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy học nhằm đạt được mục tiêu chất lượng.
12 Quản lý trường học nói chung và trường tiểu học nói riêng là một dạng quản lý đặc thù, khác với các loại hình quản lý khác ở chỗ đây là lao động sư phạm và mọi hoạt động của trường học đều hướng vào các thành tố của quá trình dạy học nhằm đưa trường học đạt được mục tiêu đã định. Các thành tố đó bao gồm mục tiêu dạy học, nôi dung dạy học, phương pháp dạy học, hình thức dạy học, đối tượng dạy học và điều kiện dạy học. Hoạt động bồi dưỡng, quản lý hoạt động bồi dưỡng 1. Hoạt động bồi dưỡng * Hoạt động Theo Từ điển Tiếng Việt (2005), hoạt động được định nghĩa là “tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội” [28, tr.115] * Bồi dưỡng Theo Từ điển Tiếng Việt (2016), định nghĩa: “Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng lực, phẩm chất” [29, tr.40] Tác giả Nguyễn Minh Đạo (1997) định nghĩa: “Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức và kỹ thuật còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường được xác định bằng một chứng chỉ” [6, tr.54] Từ những khái niệm bồi dưỡng trên cho thấy: Chủ thể của quá trình “ bồi dưỡng đã được đào tạo để có một trình độ chuyên môn nhất định.
Thực chất quá trình bồi dưỡng là để bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu nhằm nâng cao trình độ, phát triển thêm năng lực trong một lĩnh vực hoạt động chuyên môn dưới một hình thức phù hợp. Mục đích của quá trình bồi dưỡng là nhằm củng cố, nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn nghiệp vụ sẵn có như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc đang làm. ” Như vậy, có thể hiểu: Hoạt động bồi dưỡng là hoạt động có chủ đích nhằm bổ sung, cập nhật kiến thức mới tiến bộ hoặc nâng cao trình độ cho 13 người lao động nhằm tăng thêm năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu của công việc.