Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TRONG DẠY HỌC GIÁO DỤC HỌC 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Bài tập, vai trò và ý nghĩa của bài tập trong dạy học Vấn đề bài tập cũng như vai trò và ý nghĩa của bài tập trong dạy học đã được các nhà giáo dục sớm quan tâm nghiên cứu.
Thời cổ đại Hy Lạp, Socrate (469 - 399 trước công nguyên) với câu nói nổi tiếng “Điều mà tôi biết là tôi không biết gì hết” đã luôn thôi thúc ông và mọi người đi tìm chân lí để giải quyết mâu thuẫn. Trong khi tranh luận với mọi người, Socrate không bao giờ đi đến kết luận trước mà để người khác tự tìm ra cách giải quyết. Như vậy, có thể xem đây như là nhiệm vụ, là bài tập mà người học, người đàm thoại với ông phải giải quyết. Như thế, ông đã đề xuất những bài tập cho người học dưới dạng những câu hỏi khác nhau để đưa người học vào tình huống có vấn đề.
Dưới sự giúp đỡ của thầy, thông qua các câu hỏi mà học sinh có được tri thức mới [77, Tr 40]. Bài tập ở đây tồn tại dưới dạng các câu hỏi đã có sự gợi ý, có ý nghĩa giúp người học tìm ra những kiến thức mới, những chân lí mà trước đây người học chưa nhận ra hoặc nhận ra nhưng chưa được tỏ tường, sâu sắc. Điều đáng lưu ý ở đây là bài tập chỉ thực sự có ý nghĩa khi người học phải tự tìm ra kiến thức mới thông qua việc tự giải quyếtcác mâu thuẫn chứ không phải chỉ nghe hoặc xem thầy giải quyết. Thầy chỉ là người gợi ý, khuyến khích để trò tự tìm kiếm chân lí thông qua giải bài tập.
Vào thế kỷ XVIII, Petxtalodi (1746 – 1827) - nhà giáo dục Thuỵ Sĩ, một xu hướng tiến bộ của giáo dục đầu thế kỉ XIX - cho rằng: “khả năng thực hiện những điều mà trái tim và khối óc đòi hỏi phần lớn là tuỳ thuộc vào kỹ năng hành động của con người. Những kỹ năng ấy được hình thành là nhờ một hệ thống các bài luyện tập đặc biệt, có hệ thống và có mức độ khó khăn phức tạp tăng dần”[77, Tr 120]. Bài tập ở đây giữ vai trò là cầu nối của quá trình hiện thực hoá những nhu cầu, ý tưởng của con người. Làm bài tập sẽ giúp người học 9 có được những kỹ năng.
Các bài tập rèn luyện kỹ năng ở các mức độ khác nhau sẽ hình thành những mức độ khác nhau của kỹ năng. Thông thường, các kỹ năng được hình thành từ thấp đến cao, từ mức độ đơn giản đến phức tạp tuỳ thuộc vào yêu cầu, độ khó của bài tập. Và việc bắt đầu rèn luyện một kỹ năng bao giờ cũng bắt đầu từ việc làm những bài tập đơn giản nhất. Sự thành thạo và tính phức tạp của kỹ năng sẽ tăng lên trong quá trình người học hoàn thành những bài tập được xây dựng theo một hệ thống có số lượng, thể loại và độ khó tăng dần.
Đến đầu thế kỉ XX, Maria Montessori (1870 – 1952) - Nhà giáo dục người Ý nổi bật lên trong phong trào giáo dục tiến bộ diễn ra tại châu Âu và Mĩ thời kỳ này cho rằng, người học sẽ học tập tốt nhất thông qua thực hiện các nhiệm vụ cụ thể đề ra đi kèm với việc học. Chương trình do bà thiết kế gồm “các bài tập hàng ngày trong cuộc sống” và khuyến khích tính tự giác, tinh thần trách nhiệm của người học trong quá trình luyện tập[93]. Vai trò của bài tập được tác giả xem xét như là một điều kiện của kết quả học tập ở người học. Kết quả học tập của người học sẽ không đạt ở mức cao nhất nếu họ không được làm các bài tập ngay trong việc học.
Bà cho rằng chính các bài tập và quá trình tập luyện của trẻ với các bài tập sẽ đánh thức được tính tự giác và tinh thần trách nhiệm của trẻ. Có thể xem đây như là một khẳng định về vai trò của bài tập như là một phương tiện để giáo dục trẻ.Lecne với tác phẩm “Dạy học nêu vấn đề” [54] đã tổng kết những lý luận, đưa ra những nhận định cùng những ví dụ minh họa về hiệu quả thực tiễn của bài tập tình huống trong dạy học nêu vấn đề.ÔKôn với cuốn “Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề” đã đúc kết những kết quả tích cực của công trình thực nghiệm hàng chục năm về dạy học nêu vấn đề, cung cấp nhiều tài liệu cụ thể về các các thực nghiệm dạy học nêu vấn đề trong các môn toán, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và môn kỹ thuật. Cuốn sách cho người đọc biết rõ về cách tạo tình huống có vấn đề, nêu các câu hỏi và thuật lại tiến trình suy nghĩ của học sinh dưới sự chỉ đạo của giáo viên để giải đáp các câu hỏi nhằm giải 10 quyết vấn đề, đạt tới kiến thức mới một cách vững chắc, sâu sắc. Điều kiện quyết định để phát triển tính độc lập tư duy cho người học là việc nắm tri thức mới bằng con đường giải quyết các vấn đề.
Các công trình nghiên cứu của I. ÔKôn đã nêu bật vai trò quan trọng của bài tập tình huống trong việc phát triển tính độc lập, sáng tạo của học sinh. Đây là những công trình nghiên cứu rất có giá trị ứng dụng trong thực tiễn dạy học ở các loại hình trường khác nhau trên toàn thế giới. Một lần nữa vai trò, ý nghĩa của bài tập lại được khẳng định trong các công trình nghiên cứu khoa học mang tầm ảnh hưởng rộng lớn.
Vai trò quan trọng của các bài tập trong việc hình thành kiến thức mới được Jean Piaget (1896 - 1980) nhắc nhở rằng: Trẻ em không học cách thử nghiệm chỉ đơn giản bằng học cách giáo viên thao tác các thử nghiệm hoặc bằng cách làm các bài tập đã được tổ chức trước. Trẻ em học bằng quá trình tìm kiếm và nhầm lẫn, bằng cách làm việc chủ động và độc lập. Hay có thể hiểu cần phải tổ chức cho trẻ biết phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề trong quá trình học tập để trẻ có thể tự chiếm lĩnh kiến thức mới [93]. Do đó bài tập chỉ có ý nghĩa hình thành kiến thức mới cho người học nếu người học tự mình giải quyết các bài tập.
Tất nhiên quá trình này rất cần có sự hỗ trợ của giáo viên Nhà khoa học Nga E. Rapaxsêvich quan niệm: Bài tập là các hình thức khác nhau về nội dung và khối lượng công việc hoạt động tự học của học sinh dưới sự chỉ dẫn của giáo viên. Bài tập là một phần không thể thiếu của QTDH, là phương tiện quan trọng để tích cực hoá hoạt động của người học. Bài tập có vị trí trong tất cả các khâu của QTDH, từ khâu làm quen với tài liệu học tập, lĩnh hội tri thức mới, hình thành kỹ năng kỹ xảo, củng cố tri thức, vận dụng tri thức vào thực tiễn [ 102, Tr 223 - 224].
11 - Mối liên hệ giữa hành động cần thực hiện với đối tượng của hành động. Trong mối quan hệ đó luôn tiềm ẩn cách thức giải quyết bài tập. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Bài tập trở thành đối tượng hoạt động của một chủ thể khi nó làm nảy sinh ở người nào đó nhu cầu chọn và giải quyết nó [69, Tr 30]. Như thế bài tập được hiểu là đối tượng của hoạt động học, mang những đặc điểm cuốn hút được chủ thể của hoạt động học, khiêu khích được trí tò mò của người học và kích thích họ giải quyết.
Tác giả Phạm Minh Hạc [32] khi phân tích tác phẩm đầu tiên của tâm lý học – “Bàn về tâm hồn” - của A-rit-tôt, đã rút ra một kết luận sư phạm: Khi muốn dạy trẻ một tri thức nào đó phải làm sao cho trẻ vươn tới tri thức đó, hiểu được những đặc điểm cơ bản của tri thức đó. Sau đó làm sao cho trẻ biến nó thành vốn riêng của bản thân, đưa tri thức ấy vào hệ thống các tri thức, kinh nghiệm đã lĩnh hội được trước đó, tức là có thể sử dụng tri thức đó vào một việc làm cụ thể. Và câu hỏi “phải làm sao đó” được trả lời rất đơn giản: cho trẻ làm bài tập, lý giải một câu hỏi của cuộc sống. Nhờ vậy mà có thể làm cho học sinh say sưa với tri thức, tức là hăng say học tập, tin vào điều học được.
Có thể nhận thấy bài tập ở đây có vai trò, ý nghĩa rất lớn trong hoạt động học tập của học sinh. Người giáo viên có thể sử dụng bài tập để mang lại cho học sinh những hiểu biết để làm được một việc cụ thể. Đồng thời bài tập có thể giáo dục được tình cảm, niềm tin cho người học. Các tác giả Trần Bá Hoành, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Trần Văn Hà, Nguyễn Cảnh Toàn, Phạm Minh Hạc, Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt, Thái Duy Tuyên…đều đã khẳng định vai trò, ý nghĩa, tác dụng, tính hiệu quả của bài tập, bài toán, câu hỏi trong quá trình dạy học.
Bài tập là yếu tố không thể thiếu trong quá trình dạy học. Bài tập có vị trí đặc biệt quan trọng, là phương tiện dạy học đồng thời cũng hàm chứa nội dung dạy học. Đặc biệt tác giả Thái Duy Tuyên [83,Tr 224 ] đã chỉ rõ vai trò, ý nghĩa của bài tập nói chung và từng loại bài tập nói riêng đối với người học và tác dụng của nó đối với người dạy trong những ý đồ về thiết kế phương phương pháp dạy học. 12 Tác giả Phan Trọng Ngọ quan niệm: “Bài tập bao gồm các hoạt động của học viên được thực hiện theo yêu cầu của giáo viên, hướng đến việc củng cố những tri thức, kỹ năng , phương pháp hành động đã học”.
Tác giả đã đưa ra một số hình thức bài tập thông dụng được sử dụng trong dạy học như: đọc bài giảng hoặc tài liệu khác, chuẩn bị bài, chuẩn bị đề cương ôn tập, học theo đề cương ôn tập, ôn tập thường xuyên thông qua các loại bài kiểm tra. Tác giả nhấn mạnh bản thân người học phải thực hiện các hoạt động nhằm củng cố vững chắc những nội dung học tập đã học. Các hoạt động này luôn có vai trò định hướng dẫn dắt của giáo viên. Thực hiện các hoạt động đó là người học đang giải quyết các bài tập dưới nhiều hình thức khác nhau tuỳ theo ý đồ của người dạy và nội dung yêu cầu của lĩnh vực học tập[61,Tr 310].