CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 2 CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TOÁN HỌC CHO HỌC SINH 1. Các khái niệm cơ bản về hoạt động dạy học phát triển năng lực 1. Hoạt động dạy học Tác giả Phạm Đức Quang định nghĩa, hoạt động dạy học “Là hệ thống những hành động phối hợp, tương tác giữa GV và HS, trong đó, dưới tác động chủ đạo của GV, HS tự giác, tích cực, chủ động lĩnh hội hệ thống tri thức khoa học, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành thế giới quan khoa học và những phẩm chất của nhân cách [14, tr. Theo Hoàng Anh, Vũ Kim Thanh thì “Hoạt động dạy học của giáo viên là một mặt của hoạt động sư phạm” [1].
Đặng Vũ Hoạt, Phó Đức Hoà, hoạt động dạy: “Là hoạt động của giáo viên nhằm tạo ra, tổ chức và hướng dẫn hoạt động học của học sinh, nhờ đó mà ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của người học” [6, tr. Tác giả Lê Ngọc Lan cho rằng, hoạt động dạy học “là phối hợp hệ thống những hành động, tương tác giữa học sinh vàgiáo viên; dưới tác động chủ đạo của người dạy, người học tự giác, chủ động lĩnh hội hệ thống tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành thế giới quan khoa học và những phẩm chất của nhân cách. Như vậy, theo quan điểm nghiên cứu của luận văn, chúng tôi cho rằng hoạt động dạy học “là quá trình người GV truyền thụ tri thức, kinh nghiệm cho người học, là hoạt động tổ chức điều khiển của GV đối với hoạt động nhận thức của HS nhằm hình thành trong mỗi HS tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, hành vi”. Như vậy, để đánh giá hoạt động dạy cần thông qua kết quả của hoạt động học.
Trong đó, dạy (giáo viên) giữ vai trò chủ đạo, tổ chức, điều khiển, tạo động 7 lực học và làm cho học thành công; Học (người học) giữ vai trò chủ động, tự giác, tích cực, độc lập và sáng tạo. Hai hoạt động này có quan hệ chặt chẽ và tương tác lẫn nhau. Hoạt động học tập HS với vai trò là chủ thể của hoạt động học tập, thể hiện ở tính tự giác, chủ động, tích cực khám phá kiến thức. Hoạt động học tập là hoạt động tự sắp xếp, chiếm lĩnh tri thức khoa học, từ đó hình thành cấu trúc tâm lý, phát triển nhân cách.
Mối quan hệ giữa dạy và học Như vậy, để đánh giá hoạt động dạy cần thông qua kết quả của hoạt động học. Trong đó, dạy (giáo viên) giữ vai trò chủ đạo, dạy hướng đến học, dạy thúc đẩy học và làm cho học thành công; Học (người học) giữ vai trò chủ động, tự giác, tích cực, độc lập và sáng tạo. Hai hoạt động này có quan hệ chặt chẽ và tương tác lẫn nhau. Năng lực Năng lực là thuật ngữ được sử dụng cả trong bối cảnh khoa học và trong đời sống xã hội hằng ngày.
Thuật ngữ và nội hàm năng lực được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu.Weinert [17], có 9 cách tiếp cận năng lực: Xem là NL nhận thức chung; xem là NL nhận thức chuyên biệt; xem là mô hình NL - thực hiện; hai mô hình điều chỉnh từ mô hình NL - thực hiện (mô hình NL - điều độ - thực hiện và mô hình khái niệm - quy trì nh – thực hiện); xem là sự kết hợp NL nhận thức và động cơ; xem là NL khách quan, chủ quan; xem là NL hành động; xem là NL chủ chốt; xem là siêu năng lực. Một số tác giả khác quan niệm: - Theo HàXuân Thành [16], NL làtập hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, đáp ứng với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả. Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể [3] xác định: “NL là thuộc tính cánhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn 8 luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể". Với những quan niệm về năng lực đã nêu trên, ta có thể hiểu năng lực của HS trong học toán như sau: Năng lực là khả năng của bản thân huy động được các kiến thức, kỹ năng, hiểu biết, kinh nghiệm đã có, các phẩm chất như niềm tin, ý chí để thực hiện thành công nhiệm vụ học tập môn Toán.
Năng lực toán học Năng lực toán học là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu dành sự quan tâm đặc biệt, trong đó đặc biệt chú ý đến việc phát hiện và bồi dưỡng HS có năng khiếu về Toán. Đến nay vẫn chưa có được khái niệm thống nhất về năng lực Toán. Khái niệm và cấu trúc của năng lực toán học được tác giả Trần Luận nghiên cứu vàgiải thích trên hai phương diện: + Như là “năng lực sáng tạo (khoa học) - năng lực hoạt động khoa học toán học mà hoạt động này tạo ra được những kết quả, thành tựu mới có ý nghĩa khách quan đối với loài người, sản phẩm quý giá trong quan hệ xã hội”. + Như là “năng lực học tập - năng lực nghiên cứu (học tập, lĩnh hội) toán học (trong trường hợp này là giáo trình toán phổ thông), lĩnh hội nhanh chóng và có kết quả cao các kiến thức, kỹ năng tương ứng” [12].
Từ những nghiên cứu về năng lực toán học, có thể thấy: - Năng lực Toán học “được hình thành, phát triển, thể hiện thông qua (và gắn liền với) các nhiệm vụ học tập đòi hỏi HS cần tham gia hoạt động để giải quyết trong môn Toán: phân tích và vận dụng khái niệm, giải bài toán, tìm được các tình huống thực tiễn liên quan đến kiến thức của bài …” Các thành tố cốt lõi và yêu cầu cần đạt của năng lực toán học [2, tr.6] Thành phần Yêu cầu cần đạt năng lực – Thực hiện được các thao tác tư duy (ở mức độ đơn giản), đặc biệt biết quan sát, tìm kiếm sự tương đồng và khác biệt 9 Thành phần Yêu cầu cần đạt năng lực trong những tình huống quen thuộc và mô tả được kết quả của việc quan sát. Năng lực tư duy – Nêu được chứng cứ, lí lẽ và biết lập luận hợp lí trước khi kết và lập luận toán luận. học – Nêu và trả lời được câu hỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề. Bước đầu chỉ ra được chứng cứ và lập luận có cơ sở, có lí lẽ trước khi kết luận.
– Lựa chọn và giải quyết được các phép toán, công thức số học, sơ đồ, bảng biểu, hình vẽ để trình bày, diễn đạt (nói hoặc Năng lực mô viết) được các nội dung, ý tưởng của tình huống xuất hiện hì nh hoá toán trong bài toán thực tiễn đơn giản. học – Nêu được câu trả lời cho tình huống xuất hiện trong bài toán thực tiễn. – Nhận biết được vấn đề cần giải quyết và nêu được thành câu hỏi. Năng lực giải – Nêu được cách thức giải quyết vấn đề.
quyết vấn đề – Trình bày được cách thức giải quyết vấn đề ở mức độ đơn toán học giản. – Kiểm tra được giải pháp đã thực hiện. – Nghe hiểu, đọc hiểu và ghi chép (tóm tắt) được các thông tin toán học trọng tâm trong nội dung văn bản hay do người khác thông báo (ở mức độ đơn giản), từ đó nhận biết được vấn Năng lực giao đề cần giải quyết. tiếp toán học – Trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) được các nội dung, ý tưởng, giải pháp toán học trong sự tương tác với người khác (chưa yêu cầu phải diễn đạt đầy đủ, chính xác).
Nêu và trả lời được câu hỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề. 10 Thành phần Yêu cầu cần đạt năng lực – Thể hiện được sự tự tin khi trả lời câu hỏi, khi trình bày, thảo luận các nội dung toán học ở những tình huống đơn giản. – Nhận biết được tên gọi, tác dụng, quy cách sử dụng, cách thức bảo quản các công cụ, phương tiện học toán đơn giản Năng lực sử (que tính, thẻ số, thước, compa, ê ke, hình khối quen thuộc,.) dụng công cụ, – Sử dụng được các công cụ, phương tiện học toán để thực phương tiện học hiện những nhiệm vụ học tập toán đơn giản. toán – Bước đầu nhận biết được một số ưu điểm, hạn chế của những công cụ, phương tiện hỗ trợ để có cách sử dụng hợp lí.
* Dạy học phát triển năng lực toán học cho HSTH Theo Đặng Thành Hưng (2014), “Bản chất của giáo dục theo tiếp cận năng lực là lấy năng lực làm cơ sở (tham chiếu) để tổ chức chương trình, và thiết kế nội dung học tập. Điều này cũng có nghĩa là năng lực của học sinh sẽ là kết quả cuối cùng cần đạt được của quá trình dạy học hay giáo dục. Năng lực vừa được coi là điểm xuất phát, đồng thời là sự cụ thể hóa của mục tiêu giáo dục. Vì vậy, những yêu cầu về phát triển năng lực học sinh cần được đặt đúng chỗ của chúng trong mục tiêu giáo dục” [7].
Bản chất hoạt động dạy học phát triển năng lực a. Chủ thể của hoạt động dạy học Chủ thể của hoạt động dạy học là tập thể sư phạm. Hoạt động của HS chính là đối tượng mà hoạt động dạy hướng tới, là các quan hệ giao lưu giữa chúng. Hoạt động dạy học có những đặc trưng sau: - Thể hiện vai trò chủ đạo của giáo viên.
- Là một hoạt động có mục đích rõ ràng. - Có nội dung, chương trình kế hoạch cụ thể. - Diễn ra trong một môi trường xác định (lớp học, nhà đa năng, phòng thí nghiệm). 11 - Sử dụng đa dạng các phương tiện (ngôn ngữ, thiết bị, tài liệu).
- Các hoạt động: nhận thức, trí tuệ, vận động, thao tác,… b. Nội dung dạy học phát triển năng lực học sinh Tiểu học: Theo [15, tr 65], nội dung dạy học nói chung, nội dung bài học nói riêng là sự cụ thể hóa kết quả trong mục tiêu đó, do đó, GV cần xác định một cách cụ thể những tri thức, thái độ và kỹ năng, hành vi, năng lực cần hình thành cho HS. GV cần lưu ý các điểm sau đây: (1) Nội dung dạy học cần phải gắn với bối cảnh thực tế cuộc sống, điều kiện tự nhiên, xã hội của đất nước, trước hết là cuộc sống tại địa phương nơi các em sống và học tập.