đặt vấn đề. tình huống có vấn đề chưa - Chưa biết vấn đề. phát biểu vấn đề. - Thu thập - Xác định - Xác định - Xác định thông tin.
được các được các được các - Phân tích thông tin. thông tin - Biết tìm - Biết tìm - Biết tìm - Tìm ra kiến hiểu được các hiểu được các hiểu các thức khoa học thông tin có thông tin có thông tin có Thiết lập và kiến thức liên quan đến liên quan đến liên quan đến không gian liên môn liên vấn đề ở sách vấn đề ở sách vấn đề nhưng vấn đề quan đến vấn giáo khoa, tài giáo khoa và ở mức kinh đề. liệu tham thảo luận với nghiệm bản khảo khác và bạn. thông qua thảo luận với bạn.
- Đề xuất giả - Đề xuất - Đề xuất - Đề xuất thuyết. được giải được giải được giải - Lập kế hoạch pháp giải pháp giải pháp giải để giải quyết quyết vấn đề. quyết vấn đề quyết vấn đề vấn đề. - Lập được kế nhưng chưa nhưng chưa Lập kế - Thực hiện kế hoạch giải sáng tạo.
hoạch, thực hoạch giải quyết vấn đề. - Lập được kế - Chưa lập hiện giải quyết vấn đề. - Thực hiện hoạch để giải được kế pháp kế hoạch giải quyết vấn đề. hoạch để giải quyết vấn đề - Thực hiện quyết vấn đề.
đọc lập, sáng kế hoạch độc - Chưa thực tạo hoặc hợp lập nhưng hiện được kế lí. chưa sáng hoạch giải tạo. - Thực hiện và - Thực hiện - Thực hiện - Chưa thực đánh giá giải kế hoạch độc giải pháp giải hiện giải pháp giải lập, sáng tạo quyết vấn đề pháp giải quyết vấn đề. nhưng chưa quyết vấn đề.
- Suy nghĩ về Thực hiện đánh giá cách thức và giải pháp giải được giải Đánh giá và tiến trình giải quyết vấn đề. phản ánh quyết vấn đề. - Nhận ra sự - Chưa vận giải pháp - Điều chỉnh phù hợp hay dụng được và vận dụng không phù trong tình trong tình hợp của giải huống mới. - Vận dụng trong tình huống mới.
Đối với học sinh Tiểu học, mức độ phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề được thể hiện như sau: - Khả năng phát hiện và làm rõ vấn đề: Học sinh biết thu nhận thông tin từ tình huống, nhận ra những vấn đề cơ bản và đặt được câu hỏi để giải quyết vấn đề có liên quan đến bài học. - Khả năng đề xuất, lựa chọn giải pháp: Học sinh nêu được cách thức giải quyết vấn đề đơn giản theo hướng dẫn. Đây là giai đoạn mà học sinh có thể nêu lên ý kiến của mình, đề xuất những giải pháp giải quyết vấn đề. Giai đoạn này gồm những công việc sau: + Phân tích vấn đề + Kiểm tra tính đúng đắn của giải pháp - Khả năng thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề: Học sinh tiến hành giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên.
+ Đề xuất được giả thuyết khoa học khác nhau. + Lập được kế hoạch để giải quyết vấn đề đã đặt ra. + Thực hiện kế hoạch độc lập, sáng tạo và hợp lí. - Khả năng nhận ra ý tưởng mới: Học sinh có thể xác định thông tin, ý tưởng mới với bản thân từ các nguồn tài liệu cho sẵn theo hướng dẫn.
+ Thu thập và làm rõ thông tin liên quan đến vấn đề. + Thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề. + Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả. + Suy ngẫm về cách thức và tiến trình giải quyết vấn đề để điều chỉnh và vận dụng trong tình huống mới.
- Khả năng hình thành và triển khai ý tưởng mới: Dựa trên hiểu biết đã có, học sinh hình thành ý tưởng mới và dự đoán được kết quả khi thực hiện. + Đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ xét tương tự, khái quát hóa, lật ngược vấn đề,. và giải quyết nếu có thể. + Vận dụng kiến thức mới để có thể giải quyết những nhiệm vụ đặt ra tiếp theo.
- Khả năng tư duy độc lập: Học sinh độc lập trong quá trình suy nghĩ, giải quyết vấn đề, nêu được thắc mắc về sự vật, hiện tượng; không e ngại nêu ý kiến cá nhân trước các thông tin khác nhau về sự vật hiện tượng; sẵn sàng thay đổi khi nhận ra sai sót. + Học sinh độc lập tìm cách giải quyết vấn đề, trình bày lời giải, thực hiện pha kiểm tra, đánh giá. + Học sinh phải hoạt động một cách tích cực, chủ động, tự giác, độc lập, sáng tạo. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề với việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề 1.
Những hình thức và mức độ dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề vói việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề 1. Những hình thức dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề Dựa theo mức độ độc lập của học sinh trong quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề, có thể phân chia dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề thành bốn hình thức sau: - Thứ nhất: Giáo viên nêu vấn đề và trình bày cách giải quyết, học sinh chú ý vào làm mẫu của giáo viên. Đây là mức độ mà tính độc lập của học sinh thấp nhất so với các mức độ bên dưới. - Thứ hai: Giáo viên nêu vấn đề và dẫn dắt học sinh giải quyết vấn đề.
Học sinh giải quyết vấn đề dựa vào sự hướng dẫn, gợi ý của giáo viên. - Thứ ba: Giáo viên cung cấp thông tin để tạo tình huống, học sinh phát hiện ra vấn đề và tự lực huy động kiến thức, đề xuất các giải pháp để giải quyết vấn đề. - Thứ tư: Học sinh tự phát hiện vấn đề từ một tình huống thực tế và độc lập lựa chọn các giải pháp, đề xuất các giả thuyết và xây dựng kế hoạch, thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề. Đây là hình thức dạy học mà tính độc lập của học sinh được phát huy cao độ nhất.
Các mức độ dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề - Mức độ 1: Giáo viên đạt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề. Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh. - Mức độ 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề.
Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần. Giáo viên và học sinh cùng đánh giá. - Mức độ 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề. Học sinh phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự lực đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp.
Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề. Giáo viên và học sinh cùng đánh giá. - Mức độ 4: Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc của cộng đồng, lựa chọn vấn đề phải giải quyết. Học sinh giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc.
Thực hiện dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề với việc hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề Bản chất của phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh dưới sự chỉ đạo của giáo viên, học sinh nắm được tri thức và cách thức hoạt động trí tuệ mới thông qua quá trình tự lực giải quyết các tình huống có vấn đề. Hạt nhân của phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề chính là việc điều khiển học sinh tự thực hiện hoặc hòa nhập vào quá trình nghiên cứu vấn đề. Quá trình này được chia làm bốn bước sau: Bước 1: Phát hiện và thâm nhập vấn đề - Phát hiện vấn đề từ một tình huống gợi vấn đề (tình huống thường là do giáo viên tạo ra) - Giải thích và chính xác hóa tình huống - Phát biểu vấn đề và đặt ra mục tiêu giải quyết vấn đề Bước 2: Tìm giải pháp - Tìm cách giải quyết vấn đề: + Phân tích vấn đề ( làm rõ mối liên hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm) + Đề xuất và thực hiện hướng giải quyết vấn đề (khái quát hóa, đặc biệt hóa, tương tự hóa,. Việc thực hiện hướng giải quyết vấn đề có thể được thực hiện nhiều lần đến khi tìm được hướng đi hợp lí.
+ Hình thành được một giải pháp + Kiểm tra tính đúng đắn của giải pháp - Có thể tìm thêm nhiều giải pháp khác để có thể so sánh xem giải pháp nào hợp lí nhất Bước 3: Trình bày giải pháp - Lập kế hoạch giải quyết vấn đề - Thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề. Bước 4: Nghiên cứu sâu giải pháp - Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả - Đề xuất vấn đề mới có liên quan Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề mang lại rất nhiều lợi ích như: giờ học sôi động hơn, học sinh suy nghĩ và làm việc nhiều hơn, học sinh hoạt động một cách tự giác, độc lập và sáng tạo, học sinh hứng thú hơn tham gia vào giờ học. Và hơn hết dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề góp phần quan trọng trong việc hình thành các thành phần của năng lực phát hiện giải quyết vấn đề của học sinh. Cụ thể là: - Thứ nhất, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề bao giờ cũng xuất phát từ một tình huống có vấn đề.
Đây là những tình huống mới trong nhận thức của học sinh, làm nảy sinh nhu cầu tư duy ở học sinh. Tình huống có vấn đề luôn chứa đựng nội dung cần xác định, một nhiệm vụ cần giải quyết, một vướng mắc cần tháo gỡ,… do đó kết quả đạt được của việc nghiên cứu và giải quyết tình huống có vấn đề là những tri thức mới, nhận thức mới hoặc phương pháp hành động mới đối với học sinh. - Thứ hai, do đặc điểm của học sinh tiểu học, các vấn đề được hướng tới là những vấn đề đơn giản, phần lớn các vấn đề được phát hiện và được giải quyết trên cơ sở dựa vào trực quan, do đó học sinh hoàn toàn có khả năng thực hiện các thao tác phát hiện vấn đề, đề xuất, lựa chọn giải pháp cũng như tổ chức thực hiện kế hoạch để giải quyết vấn đề và chiếm lĩnh tri thức. - Thứ ba, trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, học sinh được trực tiếp tham gia vào việc thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên.