phần mở đầu, phần kết luận và phần khuyến nghị, luận văn còn bao gồm các phần nội dung chính được trình bày theo 3 chương cùng với tài liệu tham khảo và phụ lục. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài. Biện pháp tổ chức dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác với môn Toán. Thực nghiệm sư phạm.
Cơ SỎ LÍ LUẬN VÀ cơ SỞ THỤC TIỄN CỦA ĐÈ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Dạy học tương tác trên thế giới Với nguồn gốc lâu đời trong lịch sử giáo dục, quan điểm dạy học tương tác đã được khám phá và đề cập đến. Mấy ngàn năm trước, Khống Tử (551 - 479 TCN) - một trong những nhà hiền triết Trung Quốc mẫu mực nhất đã thể hiện tư tưởng “Giáo học tương trưởng”.
Trong Lễ ký - chương Học ký đã ghi: Học rồi sau đó mới biết không đủ, dạy rồi sau đó mới biết là khó khăn. Biết không đủ sau đó mới tự kiềm điểm lại mình; biết khó khăn sau đó mới tự phấn đấu thêm lên. Cho nên nói việc dạy và học hỗ trợ nhau, giúp nhau cùng phát triến. Theo quan điểm của ông, quá trình giảng dạy hiệu quả đòi hỏi sự chủ động và tích cực từ người học.
Trong đó, vai trò của người dạy tập trung vào việc hướng dẫn và định hướng. Trong suốt quá trình học tập, người học được khuyến khích tương tác với giáo viên và với chính bạn học của họ, góp phần thúc đẩy sự hiểu biết và tiếp thu kiến thức [17]. Socrates (469 - 399 TCN), một Triết gia người Hy Lạp cổ đại, cũng đã đưa ra rất nhiều các quan điểm về học tập. Cũng chính từ các quan điềm đó của ông, phương pháp truy vấn biện chứng hay phương pháp bác bở bằng logic, sau này được gọi là “Phươngphảp Socrates” ra đời, nhằm phát hiện các “chân lý” bằng cách tranh luận.
Trong phương pháp lập luận này, một vấn đề được giải quyết bằng cách chia nhỏ nó thành một hệ thống các câu hỏi liên tục, liền mạch. Lời giải cần tìm kiếm sẽ được dẫn đến dần dần thông qua các câu trả lời. Những kết luận dẫn tới mâu thuẫn sè bị loại bỏ để hoàn thiện quá trình giải quyết vấn đề. [3] [36] Nhà cải cách giáo dục người Mỳ John Dewey (1859 - 1952) quan niệm của con người được hình thành và phát triển trong những điều kiện, hoàn cảnh xã hội cụ thể, chịu sự tác động chung của môi trường tự nhiên và xã hội.
Tác giả cho rằng tác động của “tương tác xà hội” đối với việc dạy học là tiền đề của chiến lược dạy học “trường học tích cực” - “học đi đôi với làm”. Khái niệm giáo dục này đã được áp dụng rộng rãi ở Hoa Kỳ và đóng vai trò trong sự phát triển của các phong trào giáo dục đương đại tại nhiều quốc gia toàn cầu, bao gồm cả ở châu Âu và Mỹ. [31] Quan điếm dạy học tương tác phát triến của nhà tâm lý học người Nga 5 L.Vygotsky (1896 - 1934) đã tạo nên tảng cho các phương pháp giảng dạy tương tác, chú trọng đến việc tham gia tích cực của học sinh trong quá trình học. Ông tin rằng người học phát triển nhận thức tốt nhất khi họ vượt qua "vùng phát triển gần" thông qua sự cộng tác với bạn bè và GV.
Cơ chế học tập là sự kết hợp giữa học tập cá nhân và học tập hợp tác, giảng dạy là sự hợp tác hai chiều, sự hướng dẫn của GV và ý thức, tính chú động, độc lập, sáng tạo của HS. Mặc dù lý thuyết của ông chưa được phát triển đầy đủ nhưng ông nhấn mạnh đến ảnh hưởng của văn hóa đến sự phát triển nhận thức và các yếu tố xã hội góp phần phát triển nhận thức. Các lý thuyết này đã gây ảnh hưởng đáng kể đến phương pháp luận trong các trường phái giáo dục đương đại. [17] Trải qua tiến trình lịch sử, các quan điểm về tương tác đà được hình thành và phát triến bời các nhà giáo dục trên khắp thế giới.
Nhiều nghiên cứu giáo dục từ trước thế kỷ 20 đã hình thành nên những nguyên tắc cơ bản của phương pháp dạy học tương tác. Bằng chứng là họ đã quan tâm nghiên cứu sự tác động qua lại giữa các thành tố của quá trình giảng dạy, đặc biệt là mối quan hệ giữa GV và HS. Tuy nhiên, các cuộc điều tra này còn nhiều hạn chế, chẳng hạn như chưa xem xét các yếu tố môi trường và ảnh hưởng của chúng đối với quá trình giáng dạy. Vào khoảng những năm 70 ở thể kỉ XX, một nhóm các nhà nghiên cứu giáo dục là Guy Brousseau, Claude Comiti, M.
thuộc viện Đại học đào tạo GV (IUFM) ở Gremonoble (Pháp) quan niệm cấu trúc của quá trình dạy học bao gồm bốn yếu tố: người học - người dạy - kiến thức - môi trường. Tác giả cho rằng môi trường không phải là yểu tố tĩnh, bất di bất dịch mà là một yếu tố trong cấu trúc hoạt động dạy học có tác động tới người học, làm cho họ thích nghi và thay đối với các yêu cầu của môi trường hoặc thay đối chính môi trường. Theo Jean, như đã nêu trong cuốn sách "Một sổ vấn đề về phương pháp giáo dục' [15], tương tác động lực giữa người dạy và người học là cốt lõi của quá trình giảng dạy-học tập. Người dạy phải nắm rõ nội dung đế giảng dạy hiệu quả, trong khi người học phải có khả năng tiếp thu nội dung đó.
Ông chỉ ra rằng cấu trúc dạy học gồm ba yếu tố bao gồm GV, HS và đối tượng, thể hiện ba mối quan hệ cụ thể: quan hệ GV và đối tượng, quan hệ HS và đối tượng, quan hệ GV và HS. Theo ông thì đối tượng được 6 nhìn nhận từ nhiều góc độ, bao gồm cả môi trường dạy học. Trong một cuốn sách khác có tựa đề “Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác” [25], các tác giả đà quy gộp cấu trúc hoạt động dạy học trong một bộ ba bao gồm người học, người dạy và môi trường. Trong đó người học giữ vai trò chủ động, người dạy giữ vai trò chủ đạo, đồng thời họ cùng nhau khai thác và xử lý các yếu tố của môi trường dạy học để hướng tới mục đích dạy học.
Như vậy, các yếu tố tham gia tương tác theo một mạng lưới đa chiều và toàn diện bao gồm các tương tác chủ yếu: tương tác giữa GV với HS, tương tác giữa HS với HS, tương tác giữa GV với MT dạy học, tương tác giữa HS với MT dạy học. Khi tiếp tục phát triển những luận điểm khoa học về sư phạm tương tác trong cuốn “Sư phạm tương tác một tiếp cận khoa học thần kinh về học và dạy” [23], nhóm tác giả Denommé và Madeleine Roy đã đi sâu mô tả phân tích các luận điểm: “Người học học như thế nào? Người dạy dạy như thế nào? Môi trường học và môi trường dạy ảnh hưởng đến hoạt động sư phạm như thế nào? Bài báo khoa học “Senior High School Student Biology Learning in Interactive Teaching” [32] đưa ra năm nguyên tắc cơ bản là nền tảng của DHTT, bao gồm: thay đổi vai trò của GV và HS; khuyến khích sự tương tác giữa HS và GV, giữa HS và HS; nhấn mạnh cả kết quả lĩnh hội tri thức và quá trình học tập; liên hệ nội dung giảng dạy với cuộc sống hằng ngày; đối mới đánh giá trong học tập. Áp dụng phương pháp dạy học theo quan điểm SPTT, giáo viên có thể chủ động khám phá và tận dụng các sở thích, mục tiêu học tập cụ thề của học sinh. Bằng cách nắm bắt thông tin này, giáo viên có thể thiết kế các hoạt động học tập phù hợp, tạo động lực và nuôi dường sự hứng thú của học sinh đối với quá trình học.
Dạy học tương tác ở Việt Nam Trong những năm gần đây, sự tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ đã ảnh hưởng đáng kể đến nhiều khía cạnh của xã hội, trong đó có lĩnh vực giáo dục. Một trong những thay đổi quan trọng nhất là chuyển đổi từ phương pháp giảng dạy thụ động sang chủ động, tập trung vào người học thay vì người dạy. Nhìn chung thì hệ thống các quan điểm mới đều xoay quanh vấn đề dạy học tập trung vào người học để khai thác được hết các tiềm năng sẵn có của họ, từ đó phát huy tính tính cực, chủ 7 động, sáng tạo của người học. về quan điểm dạy học tương tác, ở Việt Nam cũng đã có một nghiên cứu nối bật sau: Nghiên cứu về vai trò và mối quan hệ tương tác các thành tố của quá trình dạy học, trong cuốn sách “Phươngpháp dạy và học đại học" [21], các tác giả đà chỉ ra “Tương tác không phải là một quá trình đơn giản mà là một hiện tượng đa diện." Phạm vi hợp tác trong học tập bao gồm nhiều hình thức đa dạng, bao gồm học nhóm, nghiên cứu hợp tác, thảo luận trong các nhóm nhỏ, lớp học và cấp khối.
Những hình thức này thúc đẩy tương tác giữa người dạy và người học, cũng như giữa những học sinh cùng độ tuổi và trình độ. Hay trong cuốn “Lý luận dạy học đại học" [5], tác giả đã khẳng định “dạy học là sự tương tác giữa người với người, người và xã hội (tập thê lớp, nhóm hạn, gia đình. Tác giả Phan Trọng Ngọ [19] khẳng định: “trong bất kỳ quá trình dạy học nào cũng tồn tại sự tương tác giữa ba yếu tố: người dạy, người học và đối tượng học ". Quá trình giảng dạy tương tác bao gồm các hoạt động hướng dẫn, hỗ trợ, sắp xếp, điều chỉnh và khuyến khích sự tham gia của người học.
Tương tác này diễn ra trực tiếp và hai chiều, thúc đẩy sự trao đổi và phản hồi đa chiều. Trong nghiên cứu của mình, tác giả Thái Duy Tuyên [29] đã cụ thể hóa việc vận dụng quan điếm SPTT vào dạy học. Tác giả chỉ ra rằng tương tác trong dạy học được thế hiện ở nhiều hình thức khác nhau, bao gồm: tương tác giữa giáo viên và học sinh, tương tác giữa môi trường học tập và học sinh, cũng như tương tác giữa môi trường học tập, giáo viên và học sinh. về cơ sở lí thuyết, phương pháp và kĩ thuật dạy học theo quan điểm SPTT, tác giả Đặng Thành Hưng [7] [13] [14] đưa ra quan điếm “các nguyên tắc chủ yếu của quá trình dạy học hiện đại hao gồm: nguyên tắc tương tác, nguyên tắc tham gia hoạt động học tập của người học, nguyên tắc tính vấn đề của dạy học Các triết lý dạy học đương đại, chẳng hạn như triết lí hợp tác, triết lí hiện sinh, triết lí dạy học dựa vào vấn đề, triết lí kiến tạo,.