mở đầu; hoạt động hình thành kiến thức mới, hoạt động LTTH, Hoạt động Vận dụng, trải nghiệm (nếu có)” [7, tr. Hoạt động LTTH là “hoạt động HS sử dụng từng phần kiến thức, kĩ năng, thái độ, giá trị mới vào giải quyết những vấn đề trong tình huống đơn giản gần với tình huống thực” [19]. LTTH đóng vai trò then chốt trong việc củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng, phát triển tư duy sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề, bồi dưỡng tính cẩn thận, kiên trì và niềm yêu thích môn học cho HS. Hoạt động này giúp HS tự tin tham gia thi cử và phát triển NLTH hiệu quả.
GV cần linh hoạt sáng tạo trong thiết kế bài tập, kết hợp phương pháp giảng dạy hiện đại để khơi gợi hứng thú, khuyến khích HS chủ động tham gia vào quá trình học tập. Như vậy, hoạt động LTTH là một trong 4 hoạt động cơ bản trong kế hoạch bài dạy của GV, là một trong những hoạt động trọng tâm trong tiến trình dạy học giúp người học thực hành, luyện tập kiến thức đã học vào các tình huống thực tế và phát triển kỹ năng thực hành. Vị trí, vai trò của hoạt động Luyện tập, thực hành trong kế hoạch bài dạy Theo Công văn 2345/BGDĐT-GDTH của Bộ GD&ĐT, khi xây dựng kế hoạch bài dạy, GV cần thực hiện theo cấu trúc như sau: Yêu cầu cần đạt; đồ dùng dạy học; các hoạt động dạy học chủ yếu (hoạt động Mở đầu, hoạt động Hình thành kiến thức mới, hoạt động Luyện tập, thực hành, hoạt động Vận dụng, trải nghiệm; điều chỉnh sau bài dạy) [7, tr. Cụ thể từng phần theo cấu trúc như hình dưới đây: 15 Hình 1.
Khung kế hoạch bài dạy (Nguồn: Theo Bộ GD&ĐT, 2021) Như vậy hoạt động LTTH là một trong 4 hoạt động trong kế hoạch bài dạy của GV bên cạnh các hoạt động: Mở đầu, Hình thành kiến thức mới, Vận dụng, trải nghiệm. Có thể nói, hoạt động LTTH là hoạt động then chốt để HS có thể củng cố, mở rộng, khắc sâu, vận dụng những kiến thức lĩnh hội được trong hoạt động hình thành kiến thức mới. Trong chương trình GDPT 2018, các bài học trong các bộ SGK môn Toán có thể quy về các dạng sau: Bài mới (gồm cả Thực hành và Luyện tập), Ôn tập và hệ thống hóa kiến thức. Trong hai dạng bài học này, hoạt động LTTH đều chiếm một thời lượng lớn trong kế hoạch bài dạy của GV [19].
Trong dạng bài mới, hoạt động thực hành “đề cập đến các nhiệm vụ dựa trên các vấn đề khác nhau, có thể xuất hiện ở các thời điểm khác nhau trong tiết học. Thực hành cung cấp cho HS nhiều cơ hội phong phú để tạo ra những ý tưởng mới thông qua các nhiệm vụ dựa trên vấn đề”; Luyện tập đề cập tới “các bài tập lặp đi lặp lại, được thiết kế để cải thiện kĩ năng đã học, ôn lại các kiến 16 thức để tránh bị lãng quên” [19]. Trong dạng bài ôn tập và hệ thống hóa kiến thức, hoạt động LTTH đề cập tới việc “ôn tập để tái hiện lại các kiến thức, kĩ năng đã học. Hệ thống hóa quan hệ giữa các kiến thức, kĩ năng.
Nếu có điều kiện, mở rộng, bổ sung các kiến thức, kĩ năng cần thiết” [19]. Hoạt động LTTH có mối quan hệ chặt chẽ với các hoạt động khác trong kế hoạch bài dạy. Hoạt động Mở đầu giúp HS huy động kiến thức, kĩ năng đã học để chuẩn bị cho việc tiếp thu kiến thức mới. Hoạt động Hình thành kiến thức mới giúp HS lĩnh hội kiến thức mới.
Hoạt động LTTH giúp HS củng cố, khắc sâu kiến thức, kĩ năng đã học và vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn. Hoạt động Vận dụng, trải nghiệm giúp HS vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào các tình huống mới. Đặc điểm của hoạt động Luyện tập, thực hành *Mục đích của hoạt động LTTH: Hoạt động LTTH giúp HS “củng cố và hoàn thiện kiến thức và kỹ năng mới, đồng thời khuyến khích HS huy động và liên kết thông tin đã học để áp dụng vào việc giải quyết vấn đề. Kết thúc hoạt động này, nếu cần, GV có thể lựa chọn những vấn đề cơ bản về phương pháp, cách thức giải quyết vấn đề để HS ghi nhận và vận dụng” [19].
Hoạt động này không chỉ giúp HS củng cố kiến thức vừa mới học mà còn khuyến khích HS huy động và liên kết thông tin đã có để giải quyết vấn đề. GV cần “tổ chức các hoạt động học tập phong phú và đa dạng để tránh tình trạng nhàm chán và tăng sự hứng thú cho HS” [9, tr. Điều này sẽ giúp HS không chỉ học từ kiến thức mới mà còn áp dụng và phát triển kỹ năng của mình trong môi trường học tập đa dạng và sáng tạo. * Phương thức thực hiện của hoạt động LTTH: Về hoạt động thành phần, GV cần tổ chức cho HS các hoạt động khác nhau như: những hoạt động trí tuệ (phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa); những hoạt động ngôn ngữ (trình bày vấn đề và giải quyết 17 vấn đề bằng lời, thay đổi hình thức phát biểu một định nghĩa, định lí)” [21, tr.
Về động cơ, GV cần gợi động cơ luyện tập cho HS. Điều này đòi hỏi GV cần làm cho HS hiểu được bản chất của việc học toán chính là việc “học làm toán”, do đó học lí thuyết luôn phải đi đôi với việc thực hành, luyện tập [21, tr. Trong các bài tập, GV cần cho HS thấy “vai trò của từng dạng bài tập trong việc học tập lĩnh vực nội dung này, trong môn Toán cũng như trong những môn học khác” [21, tr. Về mặt tri thức phương pháp, GV cần cung cấp cho HS “phương pháp chung để giải bài toán bao gồm 4 bước: tìm hiểu nội dung đề bài; tìm cách giải; trình bày lời giải và nghiên cứu sâu lời giải”.
Cùng với đó, GV cần quan tâm cả tri thức về những “phương pháp có tính chất tìm đoán”. Làm cho HS hiểu rằng mục tiêu quan trọng nhất “không chỉ nắm vững cách giải từng bài tập, mà là rèn luyện khả năng giải bài tập nói chung để có thể ứng phó với những tình huống mới mẻ, không lệ thuộc vào những khuôn mẫu có sẵn” [21, tr. Về phân bậc hoạt động, GV cần tận dụng và xây dựng những “mạch bài tập phân bậc để điều khiển quá trình dạy theo ba hướng tùy hoàn cảnh cụ thể: tuần tự nâng cao yêu cầu, tạm thời hạ thấp yêu cầu khi cần thiết và dạy học phân hóa”. GV cần cân nhắc lựa chọn “bài tập đầu tiên vừa trình độ HS để HS có sự tự tin, lạc quan bước vào luyện tập” [21, tr.
Quan niệm về năng lực tự học 1. Quan niệm về tự học Là một người lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy rằng học và tự học phải có mục đích và động cơ rõ ràng, học phải trả lời được câu hỏi: Học để làm gì? – Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng – Học để tin tưởng – Học để hành. Theo Đặng Thành Hưng (2012), "tự học là chiến lược học tập cá nhân độc lập, không phụ thuộc trực tiếp vào người dạy hay học chế nhất định, do người học tự mình quyết định và tự nguyện tiến hành học tập kể từ mục đích, nội 18 dung, cách thức, phương tiện, môi trường và điều kiện học tập cho đến kế hoạch và nguồn lực học tập" [15, tr 4-7; 21]. Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, tự học là tự mình động não, sử dụng các NL trí tuệ và có khi cả cơ bắp, động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan… để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó, sau đó biến hiểu biết đó thành sở hữu cá nhân [29].
Cũng có ý kiến cho rằng: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo về kinh nghiệm lịch sử loài người và của chính bản thân người học” [30] hay tự học chính là chiến lược học tập cá nhân, người học tự quyết định và tự nguyện tiến hành học tập, bao gồm từ mục đích, nội dung, cách thức, phương tiện, môi trường và điều kiện học tập cho đến kế hoạch và nguồn lực học tập Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng ở đâu có học tức là có tự học, ai học tức là đã tự học. cái chính là mức độ tự học của mỗi người khác nhau: “Như vậy, cốt lõi của học là tự học. Hễ có học là có tự học vì không ai có thể học hộ người khác được” [29]. Hai đứa trẻ sinh đôi, sống trong cùng một môi trường, học cùng một lớp, cùng nghe một thầy giảng thì mức độ tự học thường là khác nhau: Chẳng hạn, người này nghe chăm chú, cố hiểu, phần nào không hiểu đánh dấu lại về nghiên cứu tiếp hoặc hỏi bạn, hỏi thầy.
Người kia không tập trung vào bài giảng, lơ đãng, cố gắng ghi chép hết tất cả mọi điều thầy nói mà không hiểu gì cả sau đó không xem lại bài ghi đó. Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn khi đã có hệ thống sách giáo khoa thì việc học có thể diễn ra theo ba cách tăng dần mức độ khó: Cách 1: Có sách giáo khoa và thầy giáp mặt một số tiết trong ngày, trong tuần. Bằng những hình thức thông tin trực tiếp thông qua máy móc hoặc ít nhiều có sự hỗ trợ của máy móc đặt ngay trên lớp (ví dụ như một máy chiếu phim). Đó là học giáp mặt trên lớp và về nhà tự học có hướng dẫn (tự học có hướng dẫn trực tiếp của GV) [30].
Cách 2: Có sách giáo khoa và có thêm những ông thầy ở xa hướng dẫn tự học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiên thông tin viễn thông khác. Hướng 19 dẫn tự học chủ yếu là hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh tri thức, hướng dẫn tự phê bình về tính cách trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Đó là tự học có hướng dẫn (tự học có hướng dẫn gián tiếp của GV) [30]. Cách 3: Có sách giáo khoa rồi người học tự học lấy mà hiểu, mà thấm các kiến thức trong sách, qua việc hiểu mà tự rút kinh nghiệm về tư duy, tự phê bình về tính cách (như thiếu kiên trì, thiếu tư tưởng tiến công, dễ thoả mãn v v.
Đó là tự học ở mức cao (tự học không có hướng dẫn của GV) [30]. Tóm lại, Tự học là hoạt động mang tính độc lập, cá nhân, đòi hỏi có ý thức tự giác cao, có thái độ đúng, có tính mục đích, có mục tiêu rõ ràng, có hệ thống KN tự học.